Chương 1 VĂN HỌC VIẾT DÂN TỘC TÀY - MỘT BỘ PHẬN HỮU CƠ CỦA NỀN VĂN HỌC VIỆT NAM 1.1 Giới thiệu về tộc người và truyền thống văn hóa Theo những số liệu thống kê dân số học của Tổng cục thống kê, dân tộc Tày có số dân đông đảo nhất trong cộng đồng các tộc ngƣời thiểu số Việt Nam. Vậy tên gọi “Tày” có ý nghĩa gì? Đó là “tên đồng bào tự gọi và ngày nay nó trở thành tên gọi chính thức của dân tộc thay cho từ “Thổ” trƣớc đây” [15, tr. “Thổ” có nghĩa là thổ dân, ngƣời bản xứ. Về nguồn gốc dân tộc: Theo nhiều học giả, tộc ngƣời Tày xuất hiện ở miền bắc Việt Nam từ rất sớm.
Tác giả Nguyễn Đình Khoa cho rằng: “Theo một số nhà nghiên cứu thì vào khoảng hai ba nghìn năm nay các tộc ngôn ngữ Tày – Thái đã có hai lần thiên cƣ lớn xuống phƣơng nam: một lần vào nửa cuối thiên niên kỉ I trƣớc công lịch, một lần vào những thế kỉ của thiên niên kỉ I và đầu thiên niên kỉ II sau công lịch.116] Những thiên cƣ lớn ấy đã trải qua nhiều thăng trầm, nhiều biến cố lịch sử và cuối cùng cũng đi đến ổn định: “Giới hạn cực nam của họ là ở miền núi rừng Việt Bắc”. Một bộ phận khác ổn định muộn hơn, đó là các tộc Thái ở khu vực Tây Bắc và các huyện miền tây Thanh Hóa, Nghệ An ngày nay. Còn trong cuốn sách mà tác giả Ninh Văn Độ chủ biên có đề cập về nguồn gốc của tộc ngƣời Tày nhƣ sau: “Trong thƣ tịch cổ Trung Quốc gọi các bộ lạc ở vùng phía nam Trung Quốc và bắc Việt Nam là Bách Việt. Bộ lạc Âu Việt của nhóm Tày – Nùng và bộ lạc Lạc Việt của nhóm Việt - Mƣờng nằm trong Bách Việt, về sau liên minh với nhau thành nƣớc Âu Lạc”.
Điều đó chứng tỏ rằng tộc ngƣời Tày là một trong những chủ nhân đầu tiên của nƣớc Việt cổ. Tác giả Vũ Anh Tuấn trong chuyên luận về truyện thơ Tày cũng đã một lần nữa khẳng định: “Ngƣời Tày ở Việt Nam là một cộng đồng có tính thống nhất cao, sớm có ý thức tộc ngƣời và tự giác dân tộc” [22, tr. Hoàng Thị Lựu 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu Ngoài những nhóm ngƣời gốc Tày chính thức thì cũng có nhóm Tày hóa vì nhiều lý do. Một trong những nguyên do làm cho cƣ dân Tày dần dần đƣợc phân hóa là do sự giao lƣu buôn bán và sự giao thoa văn hóa với các dân tộc khác đặc biệt là tộc ngƣời Việt.
Chắc hẳn ai cũng biết câu thành ngữ dân gian “Kinh già hóa Thổ”, phản ánh một thực tế rằng các dân tộc khác đến cƣ trú ở vùng đất này (đƣợc bổ nhiệm làm quan, binh lính lên đồn trú, do tha phƣơng cầu thực…) đã chịu ảnh hƣởng sâu sắc của văn hóa Tày và trở nên Tày hóa. Một khía cạnh khác của quá trình Tày hóa này là kiểu hôn nhân hợp tộc Tày – Việt mà giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng nhận định là kiểu hôn nhân “mà nét trội là “chồng Việt – vợ Tày” và kết quả là bầy con cháu mang cả hai dòng máu Việt – Tày với những tên họ khi Tày khi Việt. Về hệ thống ngôn ngữ, Tiếng Tày thuộc ngôn ngữ Tày – Thái trong ngữ hệ Thái – Ka dai. Tiếng Tày có vốn từ gốc khá lớn và cũng có sự vay mƣợn bổ sung tiếng Việt để kho từ vựng đƣợc hoàn chỉnh, phong phú hơn.
Trong ngôn ngữ Tày, các nhóm từ cũng đƣợc phân chia rõ rệt nhƣ tiếng Việt: danh từ, động từ, tính từ…Kiểu cấu trúc ngữ pháp trong lời nói hằng ngày và trong văn tự tiếng Tày cũng giống với cấu trúc tiếng Việt. Bên cạnh hệ thống từ vựng phong phú, tộc ngƣời Tày cũng sáng tạo ra hệ số đếm tƣơng đối hoàn chỉnh. Trong quan hệ gia đình, ngƣời Tày theo chế độ phụ hệ. Sau này, sự ảnh hƣởng của Khổng giáo càng làm cho vai trò của ngƣời đàn ông trở nên quan trọng hơn.
Ngƣời đàn ông phải gánh vác những công việc nặng nhọc nhƣng cũng có quyền phán quyết những việc trọng đại trong khi phụ nữ không có quyền tham gia ý kiến. Ngày nay, tâm lý trọng nam khinh nữ vẫn còn khá phổ biến ở ngƣời Tày, nhất là các khu vực nông thôn. Tôn ti trật tự trong cách xƣng hô, ngôi thứ trong gia đình Tày cũng giống gia đình Việt. Về nhà ở: Kiến trúc nhà truyền thống của ngƣời Tày là nhà sàn (lƣờn lạn).
Kiểu nhà sàn phổ biến là ba gian hai chái hoặc năm gian hai chái. Cách thiết kế nhà ở nhƣ vậy phù hợp với điều kiện thời tiết nóng ẩm, nắng mƣa thất thƣờng của vùng Việt Bắc. Ngoài ra nhà sàn còn giúp ngƣời dân tránh đƣợc Hoàng Thị Lựu 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu thú dữ tấn công hoặc ăn thịt. Đây là điều không hiếm khi trƣớc đây rừng núi vẫn giữ đƣợc sự hoang sơ, bạt ngàn cây cối và đa dạng về giống loài.
Ngày nay, chuyện thú dữ ăn thịt hoặc tấn công ngƣời ở khu vực Việt Bắc (khu ngƣời Tày cƣ trú) không còn nữa nhƣng những nếp nhà sàn vẫn không mất đi. Bởi nó là một thói quen về không gian sống hay đúng hơn là một phong tục mà tổ tiên ngƣời Tày đã truyền lại từ bao đời nay. Về ẩm thực: Ngày nay, nhờ quá trình giao thoa văn hóa Tày – Việt và sự có mặt của truyền hình ở khắp mọi ngõ ngách bản làng, sự phát triển của kinh tế đã làm cho văn hóa ẩm thực của ngƣời Tày trở nên thú vị, phong phú hơn. Trƣớc đây thực phẩm chính của ngƣời Tày chủ yếu là các loại rau tự trồng, rau rừng, các loại thịt gia súc, gia cầm, thủy sản tự chăn thả hoặc do săn bẫy.
Cách thức chế biến thƣờng là xào, luộc, nấu canh, nƣớng trên than hồng. Những món nƣớng thƣờng đƣợc ngƣời Tày yêu thích hơn cả. Từ thời xƣa, tộc ngƣời Tày quan niệm vũ trụ gồm ba cõi: cõi trời, cõi đất và cõi nƣớc. Những câu chuyện cổ tích về sự hình thành ba cõi ấy còn đƣợc đồng bào lƣu truyền đến ngày nay.
Các tích truyện có nhiều dị bản nhƣng đều có sự tƣơng đồng ở chỗ: từ thuở hồng hoang, trời, đất, nƣớc ở rất gần nhau nhƣng vì những nguyên cớ khác nhau mà trời phải chạy lên trên cao (do loài ngƣời sinh con đẻ cái đông đúc, chật chội; do có nhiều mặt trời thiêu đốt trần gian nên đã bị chàng Pịa giƣơng cung bắn; do loài ngƣời dùng chày thúc mạnh vào mặt trời, vì đau đớn nên mặt trời phải chạy lên trên cao…). Ba cõi trời, đất, nƣớc không chỉ xuất hiện qua những câu chuyện cổ mà nó còn đƣợc thể hiện đậm nét qua những truyện thơ Nôm khuyết danh và trong cả thơ của Hoàng Đức Hậu (nhà thơ Tày xuất sắc thời kỳ cận đại). Ngƣời Tày quan niệm muôn loài đều do Pựt Luông (hay Ngọc Hoàng thƣợng đế) tạo ra, đó là đấng tối cao trong tín ngƣỡng vạn vật hữu linh của ngƣời Tày. Sau này, sự tiếp biến văn hóa Tày – Việt, Tày – Hán đã làm cho tín ngƣỡng của tộc ngƣời này chịu ảnh hƣởng sâu sắc của Tam giáo (trong đó có Phật giáo).
Thế nên ngoài việc thờ cúng tổ tiên, ngƣời ta còn thờ Đức Phật Hoàng Thị Lựu 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu Thích ca mà trong ngôn ngữ Tày thƣờng gọi là Bụt. Thờ cúng tổ tiên, ông bà cha mẹ, cúng Bụt có tầm quan trọng bậc nhất trong việc cúng bái của ngƣời Tày. Ngoài ra, họ còn cúng bà mụ (mẹ hoa), vị nữ thần đƣợc coi là thần hộ mệnh cho trẻ con; thờ táo quân (phi cằn phầy), vị thần cai quản nhân khẩu trong gia đình; thờ phi tiên sƣ (tổ sƣ) là ngƣời truyền dạy nghề làm thầy cúng, thầy mo, thầy tào, thầy phù thủy… 1.2 Hệ thống hóa những thành tựu nghiên cứu về chữ Nôm Tày Một trong những điều kiện tiên quyết đặt nền móng cho văn học thành văn của các dân tộc đó là chữ viết. Văn học viết Tày cũng không ngoại lệ.
Nhờ sự sáng tạo, bổ sung, hoàn thiện về chữ Nôm Tày và sự nỗ lực của các trí thức bản tộc mà dòng văn học thành văn Tày đã đƣợc hình thành từ thời trung đại. Đó không phải là một nhận định cực đoan, phiến diện mà dựa trên những cứ liệu văn học viết Tày thời trung đại để lại (tiêu biểu nhất là truyện thơ Nôm). Nhƣng trƣớc hết phải lần tìm đáp án cho những hoài nghi về chữ Nôm Tày. Trong luận văn này, chúng tôi sẽ tổng kết ý kiến của các học giả uy tín về vấn đề này.
Nhìn chung những ý kiến này chƣa có sự đồng thuận nhƣng nó sẽ gợi mở cho chúng ta về một vấn đề hóc búa mà chắc chắn cần nhiều thời gian tìm tòi, khảo cứu hơn nữa để có thể đi đến kết luận cuối cùng. Chữ Nôm Tày là một đề tài hấp dẫn, một đề tài còn nhiều rộng mở để các học giả cày xới, tuy nhiên những công trình nghiên cứu về vấn đề này còn quá ít. Có thể nói Từ điển chữ Nôm Tày của Hoàng Triều Ân và các kết luận nghiên cứu về chữ nôm Tày của tác giả Cung Văn Lƣợc là những công trình mang tính quy mô nhất. Ngoài ra, những quan điểm về chữ Nôm Tày của các tác giả khác chỉ là những ý kiến “bàn thêm” trong các tham luận của họ.
Tuy chỉ là bàn qua nhƣng vô cùng hữu ích cho những ngƣời muốn nghiên cứu, muốn tìm chiếc chìa khóa vạn năng để mở cánh cửa văn học còn khá nhiều bí ẩn này. Có nhiều ý kiến cho rằng, khi chạy lên đóng đô ở Cao Bằng, nhà Mạc đã truyền bá và thúc đẩy việc học giúp cho việc dùi mài kinh sử ở khu vực này phát triển mạnh. Nhà Mạc trị vì ở đây gần một trăm năm cộng với việc Hoàng Thị Lựu 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sự vận động của văn học viết Tày từ truyện thơ Nôm khuyết danh đến thơ Hoàng Đức Hậu mở mang học thuật, đã biến Cao Bằng từ một mảnh đất vùng biên viễn trở thành vùng đất có nền học vấn tốt. Từ đó nhiều ngƣời đã đặt ra giả thiết: ngƣời ta đã chế tác chữ Nôm Tày trên cơ sở nghiên cứu kỹ lƣỡng và sử dụng thuần thục chữ Nôm Việt.