Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chương 2: Phật giáo Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII và văn học Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII Chương 3: Diện mạo văn học Phật giáo Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII Chương 4: Đặc điểm văn học Phật giáo Thuận Quảng thế kỷ XVII - XVIII 7 NỘI DUNG Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Những vấn đề chung 1. Khái niệm Văn học Phật giáo Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương trong “Nghiên cứu thơ Thiền ở Việt Nam - đôi điều suy ngẫm” đã băn khoăn rằng: “Văn học viết Việt Nam trong những thế kỷ đầu tiên có mối quan hệ chặt chẽ với đội ngũ trí thức là tín đồ của Phật giáo, có nội dung gắn bó sâu sắc với những nội dung của học thuyết – tôn giáo này, nhưng tính độc lập của bộ phận văn học này trong lịch sử văn học viết dân tộc đủ mạch lạc để trở thành “nền văn học Phật giáo ở Việt Nam” hay chưa thì cho đến nay vẫn còn là một câu hỏi để ngỏ” [239, tr.
Câu hỏi này cũng được nhà nghiên cứu Nguyễn Phạm Hùng đặt ra khi thực hiện công trình Văn học Phật giáo Việt Nam trong phần “Về khái niệm văn học Phật giáo”. Tác giả Nguyễn Phạm Hùng đã chỉ rõ hai quan điểm của các nhà nghiên cứu, thứ nhất là không công nhận; thứ hai là có một loại văn học được gọi bằng văn học Phật giáo, có những đặc điểm riêng, khu biệt về nội dung và hình thức1. Những giá trị riêng biệt của dòng văn học Phật giáo Việt Nam được khẳng định qua những công trình nghiên cứu của các tác giả như Lê Mạnh Thát, Hà Văn Tấn, Trần Thị Băng Thanh, Nguyễn Công Lý, Nguyễn Phạm Hùng, Nguyễn Thị Việt Hằng2… Thành tựu nghiên cứu văn học Phật giáo trong những năm gần đây có thể khẳng định rằng có một nền văn học chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo, tạo thành một dòng văn học riêng biệt gọi là văn học Phật giáo. Nguyễn Phạm Hùng cho rằng: “Nhiều nhà nghiên cứu căn cứ trên cơ sở Việt Nam là một quốc gia Phật giáo lâu đời, có một nền văn học nghệ thuật Phật giáo lâu đời, và đặt dưới sự quan sát của những tiêu chí “mở” đã đi tới khẳng định rằng, có văn học Phật giáo tồn tại như bộ phận văn học riêng, thậm chí có thể như 1 Xem thêm Nguyễn Phạm Hùng (2015), Văn học Phật giáo Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.
2 Lê Mạnh Thát (2001), Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam tập 1-2-3, Nxb Tp Hồ Chí Minh; Nguyễn Công Lý (2003), Văn học Phật giáo thời Lý Trần- diện mạo vàđặc điểm, Nxb Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh; Nguyễn Phạm Hùng (2009), Văn học Phật giáo Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; Nguyễn Thị Việt Hằng (2015), Văn học Phật giáo Việt Nam thế kỷ XVII-XIX, Luận án Tiến sĩ văn học, Học viện Khoa học xã hội Hà Nội. 8 một nền văn học. theo những cách hiểu khác nhau” [75, tr. Mặc dù vậy, khái niệm văn học Phật giáo vẫn chưa được thống nhất.
“Người ta chấp nhận nó như một hiện tượng tất yếu trong đời sống văn học Việt Nam cổ, nhưng quan niệm về nó chưa thật sự đầy đủ, chặt chẽ, có khi thiếu khách quan, khoa học” [75, tr. Nội hàm khái niệm văn học Phật giáo khá cởi mở, tùy thuộc vào phạm vi nghiên cứu của mỗi nhà nghiên cứu. Có hai luồng ý kiến khác nhau, đó là: 1, Văn học Phật giáo chỉ bao gồm tam tạng kinh điển: Kinh, Luật, Luận - là những tác phẩm nhằm chuyển tải các giáo nghĩa kinh điển nhà Phật; 2, Văn học Phật giáo gồm tất cả các tác phẩm viết về Phật giáo, có liên quan đến Phật giáo, thậm chí có những tác phẩm đả kích, bài chống Phật giáo. Ở quan niệm thứ nhất, văn học Phật giáo là chỉ bao gồm tam tạng kinh điển Kinh Luật Luận chuyển tải trực tiếp giáo lý Phật gia.
Trong Dẫn vào thế giới văn học Phật giáo, Tuệ Sỹ đã quan niệm: “Ý nghĩa đầu tiên của một người vừa bước đến văn học Phật giáo, tất nhiên sẽ coi đây chỉ là một nền văn học tôn giáo không hơn không kém, trong tính cách “văn dĩ tải đạo” của nó. Đối với ý nghĩ bàng quan này, một nền văn học như vậy chỉ có nội dung là đủ, còn hình thức diễn đạt chỉ là vấn đề phụ thuộc” [229, tập 3, tr. Tuệ Sỹ trình bày quan niệm của mình như sau: 1. Sơ khởi văn học Phật giáo không từ chối vai trò "truyền đạo" của nó.
Tức là, chân lý của tôn giáo này, tùy trường hợp, được phô diễn tự do trong mọi thể tài văn học, và coi văn học chỉ như một phương tiện, thứ yếu, không quan trọng cho bằng nội dung. Nhưng, chân lý ở đây mang tính cách nội tại và cá biệt nơi mỗi người, do đó, sự phô diễn của nó cũng bắt đầu như sự bắt đầu của một tác phẩm văn học, nghĩa là, khởi đi từ cảm hứng bộc phát trước một thế giới của kinh nghiệm tâm linh. Trên khía cạnh tôn giáo, chân lý được chứng ngộ là phản ảnh của một thế giới sống động. Trên phương diện diễn đạt của văn học là cảm hứng tự phát của một tình tự cá biệt.
Do đó, lấy tánh Không làm chất, lấy thế giới trùng trùng vô tận làm văn. Văn và chất phản chiếu lẫn 9 nhau tạo thành thế giới toàn diện của văn học Phật giáo [229, tập 3, tr. Tuệ Sỹ không đưa ra quan niệm văn học Phật giáo, nhưng qua những phân tích, tác giả khẳng định: “Trong bất cứ nền văn học nào của Phật giáo, chúng ta có thể thấy rằng, dù khởi sự từ đâu, tất cả mọi nguồn cảm hứng đều qui về nhân cách và đời sống của đức Phật. Đây là điều mà chúng ta không thể quên, khi bước vào thế giới văn học Phật giáo.
Nếu ở nguyên thủy, nhân cách của Thích tôn là hình ảnh của một con người, thì tất cả cảm hứng văn học đều khơi nguồn từ lẽ vô thường, từ tính chất mong manh của cuộc sống. Còn ở Đại thừa, đức Phật là một nhân cách siêu việt, do đó cảm hứng văn học cũng được khơi nguồn từ thế giới siêu việt” [229, tập 3, tr. Như vậy, tác giả đã xác định nguồn gốc đầu tiên của văn học Phật giáo đó chính là nhân cách của Đức Phật, từ đó xây dựng nên tam tạng kinh điển. Đồng thời, cũng chính hình tượng Đức Phật, phong cảnh Già lam tạo cảm hứng cho văn học.
Hay nói cách khác, văn học Phật giáo trước hết là tam tạng kinh điển, thứ đến là sự ảnh hưởng, nguồn cảm hứng từ Phật giáo. Tác giả Huệ Dân cho rằng: “Văn học Phật giáo là sự sáng tác của từng cá nhân góp lại, xuất phát từ nguồn cảm xúc của các hiện tượng đời sống, được miêu tả, phản ảnh trực tiếp, bằng nhận thức, lý giải và thái độ sống động qua những lời Đức Phật đã dạy” [250]. Tương tự, tác giả Thích Phước Đạt khẳng định: “Phật giáo vốn được xem là một tôn giáo có hệ thống tam tạng kinh điển vĩ đại nhất so với tất cả các tôn giáo trên thế giới. Đây chính là cơ sở được xác lập nền văn học Phật giáo phong phú từ nội dung cho đến hình thức thể hiện” [35, tr.
Cao Hữu Đính trong cuốn Văn học sử Phật giáo phân tích sự hình thành văn học Phật giáo nhưng chỉ ở mức độ là khảo cứu từ Kinh Luật Luận. Tương tự như vậy, tác giả Thích Kiên Định khi nghiên cứu Lược sử văn học Sanskrit và Hán tạng Phật giáo cũng đi vào phân tích nguồn gốc các tác phẩm chứa đựng trong tam tạng gồm Kinh Luật Luận. Điều này cho thấy văn học Phật giáo ở hai bộ phận Sanskrit và Hán tạng chỉ gói gọn trong Tam tạng kinh điển mà thôi. 10 Như vậy, với quan điểm thứ nhất, là quan điểm của đa số giới nghiên cứu Phật học thì văn học Phật giáo không đi ra ngoài Tam tạng kinh điển.
Kinh Luật Luận đều là những tác phẩm văn học Phật giáo. Quan điểm chỉ xác nhận vấn đề tư tưởng của Phật giáo, chuyên về việc lưu giữ và truyền bá Phật giáo. Nói rõ hơn, việc nhìn nhận văn học Phật giáo này chỉ là việc xem Kinh Luật Luận dưới góc nhìn tư tưởng chứ chưa đi vào các tiêu chí của một nền văn học thuần túy, tức bao gồm nội dung và hình thức thể hiện. “Quan điểm này rõ ràng không phản ánh đầy đủ và toàn diện những diện mạo và sắc thái của Văn học Phật giáo, đã bó hẹp Văn học Phật giáo trong phạm vi sinh hoạt của nhà chùa và của riêng giới tu hành” [75, tr.
Quan điểm này hạn chế tác phẩm văn học Phật giáo, đồng thời cũng hạn chế lực lượng sáng tác bộ phận văn học này. Quan niệm thứ hai, văn học Phật giáo bao gồm những tác phẩm có nội dung tư tưởng liên quan đến Phật giáo. Nguyễn Duy Hinh cho rằng: “có thể chia các tác phẩm văn xuôi và văn vần thời Phật giáo cực thịnh thành ba loại.[…] Loại thứ nhất là các tác phẩm bình giảng lý thuyết Phật giáo [.], các bài tụng cổ, các bài kệ. Chính đó mới là văn học Phật giáo thuần túy bàn giáo lý và tu hành; loại thứ hai là những áng văn chương chịu ảnh hưởng tư tưởng Phật giáo.
Nội dung loại văn thơ này bàn về sinh tử vô hữu tâm Phật [.]; loại thứ ba là các tác phẩm không dùng từ ngữ hay có dùng ít nhiều từ ngữ Phật giáo song tuyệt nhiên không mang nội dung Phật giáo” [62, tr. Tác giả đã mở rộng phạm vi văn học Phật giáo gồm những tác phẩm thuần túy và những tác phẩm chỉ ảnh hưởng Phật giáo. Lê Mạnh Thát trong “Lời nói đầu” của bộ sách Tổng tập Văn học Phật giáo Việt Nam đã nhấn mạnh sẽ giới thiệu trên 40 tác giả bao gồm sáng tác của các Thiền sư, vua quan và các vị Nho sĩ. Điều này chứng tỏ, tác giả đã mở rộng phạm vi văn học Phật giáo, bao gồm ngoài những tác phẩm trực tiếp chuyển tải giáo lý Phật gia còn có những tác phẩm ảnh hưởng tư tưởng của Phật giáo.