Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 1. Một số khái niệm 1. Văn hóa Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại.
Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc” [58, tr. Theo Đại từ điển tiếng Việt xuất bản năm 1998: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong lịch sử” [11, tr. Trong đó theo Đoàn Văn Chúc (1997): “Văn hóa là tổng thể về những thành tựu, những giá trị vật chất và tinh thần do con người kiến tạo trong quá trình quan hệ với tự nhiên, xã hội và đời sống tinh thần có tính đặc thù của mỗi dân tộc” [8, Tr. Như vậy, khía cạnh ý thức hệ của văn hóa, tính giai cấp của văn hóa và trên cơ sở đó hiều rõ sự vận động của văn hóa trong xã hội có giai cấp.
Với cách tiếp cận như vậy có thể hiểu rằng nền văn hóa không chỉ là một phản ánh của mọi nội dung và đặc tính của xã hội, mà còn là sản phẩm của cơ sở kinh tế và chính trị của mỗi giai đoạn lịch sử. Trong bối cảnh này, ý thức của các tầng lớp thống trị định hình và chi phối hướng phát triển của văn hóa, cũng như quyết định việc xây dựng và thiết lập hệ thống chính sách và pháp luật quản lý các hoạt động văn hóa. Từ phân tích các quan điểm trên, văn hóa bao gồm các giá trị vật chất và những giá trị tinh thần, được xây dựng và kế thừa qua các thế hệ. Điều này bao gồm ngôn ngữ, tiếng nói, tôn giáo, di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh và nhiều yếu tố khác tạo nên bản sắc và đặc trưng riêng của mỗi dân tộc và đất nước.
Bản sắc văn hóa Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" dùng để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là nói tới sắc thái, đặc tính, 9 đặc thù riêng của sự vật đó [11]. "Bản sắc" là từ một ghép có gốc Hán - Việt nên có một cách tiếp cận khác là phân tích trên ngữ nghĩa của hai từ "bản" và "sắc". Theo đó, "bản" là cái gốc, cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân của một sự vật; "sắc" là sự biểu hiện cái căn bản, cái cốt lõi, cái hạt nhân đó ra ngoài. Khi nghiên cứu về văn hóa theo chiều rộng nhất, bản sắc văn hóa của một dân tộc không chỉ bao gồm những giá trị vật chất và tinh thần mà dân tộc đó đã sáng tạo và phát triển qua thời gian, mà còn là tổng hợp độc đáo và riêng biệt, đặc trưng và định danh độc đáo của dân tộc đó so với các dân tộc khác.
Bản sắc văn hóa thể hiện sự đa dạng và sự phong phú trong thế giới văn hóa toàn cầu. Như vậy, trong phạm vi đề tài cho rằng: Bản sắc văn hóa là hệ thống các giá trị đặc trưng, bản chất của một nền văn hóa được hình thành, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa, là những nét đặc thù, độc đáo, dấu hiệu để nhận biết một nền văn hóa và phân biệt với nền văn hóa khác. Giá trị bảo tồn và phát huy văn hóa Theo từ điển Hán Nôm của Nguyễn Quốc Hùng, "Bảo tồn là giữ gìn cho còn, không để bị mất"[30]. Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa đại diện cho quá trình bảo quản và thúc đẩy những giá trị văn hóa đặc trưng và cốt lõi, mà con người đã tạo ra, nhằm phản ánh và đáp ứng đúng mực với sự phát triển của xã hội con người.
Giá trị là kết quả của quá trình tư duy và sản xuất tinh thần của con người và là yếu tố cốt lõi của văn hóa. Giá trị văn hóa là một hình thái của đời sống tinh thần, phản ánh và kết tinh cuộc sống văn hóa của con người, giúp điều chỉnh hành vi và định hướng sự phát triển theo hướng chân - thiện - mỹ, góp phần tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của các quốc gia và dân tộc trên thế giới, bao gồm cả Việt Nam. Dựa trên cách diễn giải này trong phạm vi đề tài cho rằng bảo tồn phát huy văn hóa là các biện pháp nhằm bảo tồn và tôn vinh các giá trị văn hóa, giữ chúng không bị quên lãng hay mất đi sự sắc nét. Đồng thời, những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp được lan tỏa và tỏa sáng, mang lại ý nghĩa tích cực trong cuộc sống cộng đồng, góp phần vào mục tiêu văn hóa trong quá trình phát triển kinh tế xã hội.
Chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Theo Wiki: “Chính sách là một hệ thống nguyên tắc có chủ ý hướng dẫn các quyết định và đạt được các kết quả hợp lý. Một chính sách là một tuyên bố về ý định, và được thực hiện như một thủ tục hoặc giao thức. Các chính sách thường được cơ quan quản trị thông qua trong một tổ chức. Chính sách có thể hỗ trợ cả việc đưa ra quyết định chủ quan và khách quan” [70].
Quan điểm chính sách là hoạt động của nhà lãnh đạo được Nguyễn Văn Phúc cho rằng “Chính sách là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay các nhà quản lý đề ra để giải quyết một vấn đề nào đó thuộc phạm vi thẩm quyền của mình” [41] Theo Nguyễn Đình Tấn trong bài viết của Nguyễn Hương trên trang wed luatvietnam.vn cho rằng “Chính sách thường được thể chế hóa trong các quyết định, hệ thống pháp luật, các quy chuẩn hành vi và những quy định khác” [71]. Với quan điểm chủ trương và chính sách cơ bản, toàn diện được thực hiện bởi cơ quan quản lý Nhà nước được UNESCO định nghĩa như sau: “Chính sách văn hóa là một tổng thể các nguyên tắc hoạt động quyết định các thực hành, các phương pháp quản lý chính và phương pháp ngân sách Nhà nước dùng làm cơ sở cho các hoạt động văn hóa” [58]. Chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa được thực hiện dựa trên các chủ trương và đường lối của Đảng và Nhà nước, từ Hiến pháp đến các văn kiện của Đảng, được cụ thể hóa thông qua Nghị quyết của các Hội nghị Trung ương Đảng. Chiến lược phát triển văn hóa trong các giai đoạn khác nhau được xác định, đặc biệt sau khi Luật Di sản văn hóa được thông qua.
Các Nghị định, Thông tư hướng dẫn Luật Di sản văn hóa được ban hành bởi các cơ quan có thẩm quyền, đóng vai trò quan trọng trong việc định rõ hướng dẫn và quy định trong quá trình thực hiện chính sách này. Mục đích, ý nghĩa của chính sách bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc thiểu số 1. Mục đích Bảo tồn và kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống xuất sắc của các dân tộc đóng góp quan trọng vào việc truyền đạt giáo dục về lòng yêu nước và niềm tự hào 11 dân tộc. Hành động này đồng thời gia tăng sức mạnh của sự đoàn kết giữa các dân tộc, hướng tới một nền văn hóa Việt Nam hiện đại và đậm chất bản sắc dân tộc.
Tôn vinh những giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số và khuyến khích sự sáng tạo trong việc tạo ra các giá trị văn hóa mới có tác động tích cực trong việc giảm bớt sự chênh lệch về mức sống và trải nghiệm văn hóa giữa các khu vực và dân tộc. Hành động này đóng góp vào việc xây dựng mối liên kết giữa mục tiêu phát triển kinh tế và phát triển văn hóa. Đặc biệt, điều này trở nên quan trọng tại các khu vực địa lý khó khăn như vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa và vùng đặc biệt khó khăn. Tạo ra một môi trường văn hóa và đời sống văn hóa cho cộng đồng dân tộc thiểu số bằng cách liên kết các hoạt động xây dựng đời sống văn hóa với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội.
Hành động này nhằm đáp ứng một cách chính xác nhu cầu của từng khu vực, vùng miền và cộng đồng dân tộc cụ thể, đồng thời tôn trọng các yếu tố về tôn giáo. Bảo tồn và thúc đẩy những đặc trưng văn hóa độc đáo của các dân tộc thiểu số, đồng thời kết hợp với các chương trình phát triển kinh tế. Quá trình này khuyến khích sự phát triển của nghề thủ công truyền thống và tích hợp việc phát triển du lịch cộng đồng, nhằm mục tiêu xóa đói ngiarm nghèo và nâng cao mức sống. Đối với cộng đồng dân tộc thiểu số, việc cụ thể hóa các quy định chung của Nhà nước là vô cùng quan trọng.
Điều này đảm bảo rõ ràng, ngắn gọn và dễ hiểu, giúp mọi người dễ dàng nắm bắt và tự giác chấp hành. Kết hợp lợi ích cụ thể của cộng đồng trong các hoạt động bảo tồn văn hóa là một cách hiệu quả để thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo người dân. Đặc biệt, trong việc bảo vệ di sản văn hóa truyền thống, việc tăng cường vận động và tuyên truyền đóng vai trò quan trọng, giúp nâng cao ý thức tự giác của cộng đồng và liên kết với quá trình xã hội hóa trong công tác bảo tồn văn hóa. Ý nghĩa Chính sách đóng một vai trò quan trọng như một phương tiện để thể hiện một cách cụ thể các nguyên tắc và chỉ đạo của Đảng và Nhà nước.
Quá trình thực hiện chính sách là quá trình biến các ý tưởng và chỉ đạo từ các tài liệu hành chính thành 12 các hành động cụ thể, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Trong ngữ cảnh của chính sách bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống, đây là quá trình chuyển giao ý kiến và định hướng của Đảng và Nhà nước thành các biện pháp hành động, sáng kiến, và giải pháp cụ thể. Dựa trên cơ sở này, có thể xây dựng phương pháp thích hợp để thực hiện một cách hiệu quả công tác bảo tồn và phát triển giá trị văn hóa.