phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày gồm 3 chƣơng: hƣơng 1 Những vấn đề lý luận về văn hóa lễ hội trên báo điện tử Việt Nam hƣơng 2 Thực trạng vấn đề văn hóa lễ hội trên báo điện tử Việt Nam hƣơng 3 Một số giải pháp cơ bản để nâng cao chất lƣợng thông tin về vấn đề lễ hội trên báo điện tử Việt Nam 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Văn hóa Trong suốt chiều dài lịch sử nhân loại, “văn hóa” tồn tại cùng với con ngƣời nhƣ một thực thể khách quan. Chính vì thế, bản thân nội hàm “văn hóa” chứa đựng rất nhiều lớp nghĩa. “Văn hóa” đƣợc hiểu là tinh thần nhƣ: ngôn ngữ, chữ viết, âm nhạc, tôn giáo, tín ngƣỡng,…; “văn hóa” là vật chất nhƣ các hình thức: ăn, mặc, ở, giao tiếp, sinh hoạt cộng đồng,… rồi trải qua thời gian, lại phát triển thành nhiều khái niệm có nội hàm hết sức khác nhau nhƣ: văn hóa ứng xử, văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, văn hóa lễ hội,… Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, loài ngƣời mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phƣơng thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài ngƣời đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [30; tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhìn nhận “văn hóa” dƣới góc độ là những nhu cầu thiết yếu để sinh tồn nhƣ: ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phƣơng thức sử dụng. Với định nghĩa này, con ngƣời đƣợc nhấn mạnh là chủ thể của “văn hóa”, vừa là đối tƣợng sáng tạo ra văn hóa, vừa là yếu tố cân bằng, điều chỉnh văn hóa phù hợp với nhu cầu của con ngƣời.
Đến năm 1982, UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp quốc) đã đƣa ra định nghĩa về “văn hóa” nhƣ sau: “Văn hóa là tổng thể những 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm ngƣời trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chƣơng, những lối sống, những quyền cơ bản của con ngƣời, những hệ thống các giá trị, những tập tục và tín ngƣỡng. Văn hóa đem lại cho con ngƣời khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý.
Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vƣợt trội bản thân”. Với cách định nghĩa này, “văn hóa” đƣợc khẳng định nhƣ một nhân tố vô cùng quan trọng nhằm thúc đẩy sự phát triển của loài ngƣời: “Chính nhờ văn hóa mà con ngƣời tự thể hiện, tự ý thức đƣợc bản thân, tự biết mình là một phƣơng án chƣa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình mới mẻ, những công trình vƣợt trội bản thân”; Thiết lập nên một hệ thống những giá trị chuẩn mực và đạo đức trong xã hội: “Chính văn hóa đã làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lý tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lý”. Trong hàng trăm quan niệm về “văn hóa”, có lẽ đây đƣợc xem là định nghĩa mang tính phổ quát, đánh giá văn hóa theo cách nhìn đa chiều, giúp ngƣời đọc có thể hình dung đƣợc bản chất, biểu hiện và những giá trị của văn hóa đối với cộng đồng, xã hội. Nghị quyết Trung ƣơng 5 (Khóa VIII) - chiến lƣợc văn hóa của Đảng trong thời kỳ đổi mới chỉ rõ: “Văn hóa đƣợc đề cập ở đây theo nghĩa rộng, bao gồm các lĩnh vực chủ yếu tạo nên đời sống văn hóa nhƣ: Tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống; Môi trƣờng văn hóa; Giáo dục và Đào tạo; Khoa học và Công nghệ; Văn học nghệ thuật; Thông tin đại chúng; Giao lƣu văn hóa với nƣớc ngoài; Thể chế và thiết chế văn hóa.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Với định nghĩa này, văn hóa đƣợc coi là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Các nhân tố văn hóa phải gắn kết chặt chẽ với đời sống và hoạt động xã hội trên mọi phƣơng diện chính trị, kinh tế, xã hội, luật pháp, kỷ cƣơng,. biến thành nguồn lực nội sinh quan trọng nhất của phát triển. Thực tế, “văn hóa” còn đƣợc nhắc tới với những tƣ cách khác.
Nhà văn hóa Hữu Ngọc đã viết nhƣ sau: “Văn hóa là một tổng thể những hệ thống biểu trƣng (ký hiệu) tri phối cách ứng xử và các mối quan hệ trong một cộng đồng khiến cộng đồng ấy có đặc thù riêng. Cần nhấn mạnh thêm, văn hóa bao gồm hệ thống những giá trị để đánh giá một sự việc, một hiện tƣợng (đẹp hay xấu, đạo đức hay vô luân, phải hay trái…) theo cộng đồng ấy… Nói đơn giản, văn hóa nhấn mạnh về ứng xử với con ngƣời,… văn hóa thể hiện những khuynh hƣớng thầm kín nhất, những nhu cầu tâm tình và những quan niệm vũ trụ luận của dân tộc ấy” [29]. Khác với những quan điểm trƣớc đó, tác giả đã lựa chọn cách tiếp cận, góc độ tiếp cận khác về “văn hóa”, con ngƣời ở đây không phải là đối tƣợng sáng tạo ra các nhu cầu thiết yếu phục vụ đời sống cộng đồng, mà con ngƣời là chủ thể tạo nên văn hóa, giá trị của văn hóa thông qua các hành vi đƣợc con ngƣời thống nhất trở thành hệ thống quy chuẩn trong xã hội. Tác giả Trần Ngọc Thêm viết: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên và xã hội” [38; tr.
Tác giả đã đƣa ra một định nghĩa có ý nghĩa tổng quát, giúp ngƣời đọc có thể dễ dàng nhận thấy mối quan hệ giữa “văn hóa” đối với con ngƣời và môi trƣờng tự nhiên. Hiểu một cách đơn giản, “văn hóa” đƣợc tạo ra trong quá trình con ngƣời tƣơng tác tự nhiên, làm xuất hiện những giá trị vật chất và tinh thần. Những giá trị đó chính là “văn hóa”. Theo Từ điển Tiếng Việt, “văn hóa” là: 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com -“Tri thức, kiến thức khoa học”; - “Trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh” [32; tr.
Nhƣ vậy, với cách phân tích này, “văn hóa” đƣợc hiểu là một biểu hiện của văn minh. Ở đây ta hiểu theo nghĩa rộng, văn minh và văn hóa có thể dùng thay thế cho nhau để chỉ những kết quả khách quan của hoạt động con ngƣời (sản xuất, thiết bị, máy móc, chuẩn mực đạo đức và pháp luật,…); cũng nhƣ sức sáng tạo và năng lực của con ngƣời đƣợc thể hiện trong hoạt động (tri thức, kỹ năng, thói quen, trình độ, sự phát triển đạo đức và thẩm mỹ, phƣơng thức và hình thức giao tiếp giữa con ngƣời với nhau). Xuất phát từ lý luận, thực tiễn và các phân tích nêu trên, có thể đƣa ra một khái niệm về “văn hóa” nhƣ sau: “Văn hóa là biểu hiện của văn minh bao gồm những phương thức ứng xử, giao lưu, truyền cảm giữa những người trong cộng đồng lớn hay nhỏ với môi trường tự nhiên, xã hội,… để phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác”. “Văn hóa” đƣợc định nghĩa theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, đƣợc phản ánh theo chiều rộng hay chiều sâu, ở góc độ giá trị vật chất hay tinh thần, miêu tả hay đặc trƣng, thì đều nêu đƣợc “hạt nhân” hợp lý của mình, khác biệt giữa các định nghĩa đó chủ yếu là do ý đồ của tác giả đang muốn nhấn mạnh vào khía cạnh nào mà thôi.
Lễ hội Trong lịch sử hàng ngàn năm dựng nƣớc và giữ nƣớc hào hùng của dân tộc Việt Nam, tổ tiên ta đã kiến tạo nên một nền văn hóa vững bền, bản lĩnh và nhân văn. Trong nền văn hóa truyền thống ấy, lễ hội là một loại hình di sản văn hóa phi vật thể phong phú nhất, là sự kết tinh quan trọng giữa tinh thần và đời sống của con ngƣời Việt Nam. - Lễ 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lễ giữ một vị trí quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc, là biểu hiện của thuần phong mỹ tục, những tập tục truyền thống, tập quán sinh hoạt của cộng đồng đƣợc hình thành và củng cố theo thời gian. Tác giả Dƣơng Văn Sáu viết về “Lễ” nhƣ sau: “Lễ chính là những khuôn mẫu của ngƣời xƣa đã quy định; các phép tắc buộc phải tôn trọng, tuân theo trong các mối quan hệ xã hội” [35; tr.
Nhƣ vậy, ở định nghĩa này, tác giả đã nhìn nhận “Lễ” ở khía cạnh các khuôn mẫu, các chuẩn mực về hành vi đã đƣợc chế độ quy định, xã hội thừa nhận và bắt buộc phải thực hiện theo. Từ điển Bách khoa Việt Nam giải thích: “Lễ là hệ thống các hành vi, động tác nhằm biểu hiện lòng tôn kính của con ngƣời đối với thần linh, phản ánh những ƣớc mơ chính đáng của con ngƣời trƣớc cuộc sống mà bản thân họ chƣa có khả năng thực hiện” [45]. Qua các hình thức nghi lễ, con ngƣời thể hiện đƣợc sự tôn kính, biết ơn thần linh, đồng thời mong mỏi các đấng bề trên ban cho những điều tốt lành hoặc những điều bản thân mình mong muốn nhƣng chƣa thực hiện đƣợc để có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Theo Từ điển Tiếng Việt - Lễ là “Những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó” [32;tr.