CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận về văn hóa giáo dục của Đoàn Thanh niên-Hội Sinh viên trong nhà trường đại học Việt Nam 1. Các khái niệm liên quan 1. Giáo dục và văn hóa giáo dục Giáo dục Theo Từ điển Giáo dục học, nghĩa rộng của giáo dục “là hoạt động hướng tới con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ những tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kĩ năng và lối sống, bồi dưỡng tư tưởng và đạo đức cần thiết cho đối tượng, giúp hình thành và phát triển năng lực, phẩm chất, nhân cách phù hợp với mục đích, mục tiêu chuẩn bị cho đối tượng tham gia lao động, sản xuất và đời sống xã hội” (Bùi Hiền, 2001, tr.
Ở nghĩa hẹp, giáo dục là một quá trình hoạt động có ý thức, mục đích và kế hoạch của một người (hay một nhóm người) - gọi là giáo viên - nhằm tác động vào hệ thống nhận thức của một người (hay nhóm người) khác, với mục đích làm phát triển trí thông minh, khả năng nhận thức phù hợp với thế giới khách quan. Qua đó tạo ra con người mới, có những phẩm chất phù hợp với yêu cầu được đặt ra (Nguyễn Văn Tuấn, 2007). Nhìn chung, các định nghĩa về giáo dục đều diễn tả sự truyền đạt và lĩnh hội giữa người với người, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đề cập đến các yếu tố của quá trình tổ chức việc dạy và học, với mục đích cuối cùng là hướng đến những con người hoàn thiện tương ứng với yêu cầu của từng xã hội. Trong bối cảnh hiện đại và lấy người học làm trung tâm thì chúng tôi làm rõ thêm khái niệm giáo dục như sau: Giáo dục là hoạt động tác động giữa chủ thể này lên chủ thể khác thông qua các hoạt động dạy và học có tính tổ chức và mục đích ở các cơ sở giáo dục (các chương trình chính khóa và ngoại khóa) hoặc ở các nhóm, cộng đồng, tổ chức khác nhằm phát triển, hướng đến hoàn thiện con người góp phần vào sự phát triển chung của xã hội.
Văn hóa giáo dục Trước khi định nghĩa văn hóa giáo dục, chúng tôi đề cập đến định nghĩa văn hóa. Văn hóa được định nghĩa là các mô hình, các ý tưởng (Kroeber & Kluckhohn); là tập hợp các giá trị, niềm tin, hành vi (Matsumoto); hay Spencer – Oatey (2012) định nghĩa 12 văn hóa là tập hợp các giả định và giá trị cơ bản mang tính định hướng. Những năm 70 của thế kỷ XX, xu hướng toàn cầu hóa phát triển mạnh và quá trình phổ quát các giá trị toàn cầu làm cho đặc trưng văn hóa của các quốc gia, khu vực, dân tộc ngày càng được quan tâm và xem trọng. Năm 1970, hội nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa tại Venise đã xác định: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này, khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động”.
Ở Việt Nam, Trần Ngọc Thêm định nghĩa văn hóa là hệ thống giá trị, đồng thời xác định các đặc trưng của văn hóa bao gồm: tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân văn, tính lịch sử và các chức năng tương ứng với các đặc trưng đã nêu (Trần Ngọc Thêm, 1997, tr. Theo nghĩa rộng, văn hóa là thành quả từ quá trình hoạt động sáng tạo của con người với tư cách là thành viên của xã hội. Văn hóa đồng thời mang tính giá trị, nhưng không phải giá trị tự thân hay giá trị sử dụng mà là giá trị do con người ở các cộng đồng và một quy chiếu nhất định gán cho. Việc hình thành văn hóa là một quá trình, bắt đầu từ đời sống cá nhân trở thành các hệ thống cộng đồng, có khả năng chuyển nhượng một cách có tổ chức (Leslie A.
Như vậy, văn hóa được hiểu là hệ thống giá trị thuộc về con người trong cộng đồng và được xác định thông qua các hoạt động xã hội, ứng với bối cảnh thời gian và không gian nhất định. Trong hệ thống văn hóa, con người là chủ thể không được tính thành một thành tố. Với vai trò là chủ thể, con người trong cộng đồng đã sáng tạo ra các giá trị văn hóa từ quá trình sống. Mặt khác, giáo dục là một trong những chức năng quan trọng của văn hóa, thể hiện quá trình truyền tải hệ thống giá trị qua nhiều thế hệ.
Trong quá trình thực hiện hoạt động giáo dục như vậy, các giá trị mới được hình thành và các giá trị đã có phù hợp tiếp tục được phát huy. Văn hóa giáo dục thể hiện rõ hơn nữa tính giá trị của văn hóa và chức năng của giáo dục. Tóm lại, cùng với định nghĩa về giáo dục đã được trình bày, chúng tôi quan điểm văn hóa giáo dục là hệ thống giá trị hình thành trong quá trình hoạt động giáo dục của tổ chức/nhóm người/cộng đồng trong bối cảnh không gian, thời gian nhất định. Hệ giá trị này tác động đến các đối tượng tham gia hoạt động giáo dục nhằm hoàn thiện cá nhân và góp phần xây dựng xã hội.
Theo quan điểm trên, chúng tôi xác định đặc trưng của 13 văn hóa giáo dục tương ứng với đặc trưng của văn hóa theo định nghĩa văn hóa của Trần Ngọc Thêm bao gồm tính hệ thống, tính giá trị, tính nhân sinh và tính lịch sử. Trường đại học Khái niệm trường đại học luôn gắn liền với hệ thống tổ chức giáo dục của quốc gia (cơ cấu tổ chức trường học). Ở nước ngoài, các khái niệm như university (trường đại học), college (trường cao đẳng), faculty (khoa), school (trường) thường được sử dụng trong cơ cấu tổ chức, hệ thống giáo dục của nhà trường đại học. Trong hệ thống giáo dục Mỹ, “trường (school) là từ chung nhất chỉ nơi diễn ra hoạt động đào tạo, giáo dục chính thức (formal schooling).
Trong hệ thống giáo dục Anh, “cao nhất là trường đại học (university), trong đó có thể có trường cao đẳng (college), khoa (faculty), trường (school, department), trung tâm (center)” (Đỗ Thị Ngọc Quyên, 2019). Theo đó, mỗi đơn vị giáo dục thể hiện vai trò, sứ mệnh mà chúng đang đảm nhận trong hệ thống của nhà trường đại học. Ở Việt Nam, hệ thống giáo dục sau phổ thông cũng có những đơn vị với tên gọi tương tự. Trường đại học ở Việt Nam có 3 cấp bậc đào tạo là cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ, được cấu thành từ các đơn vị như khoa, viện, trung tâm.
Theo Từ điển Giáo dục học, trường đại học là “cơ sở giáo dục thuộc bậc đại học đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, có thể đào tạo trình độ thạc sĩ, tiến sĩ khi được thủ tướng Chính phủ giao … Tất cả các trường đại học đều phải thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn quy định trong Luật giáo dục và đều được quyền tự chủ và chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật và theo Điều lệ Nhà trường” (Bùi Hiền, 2011, tr. Bên cạnh đó, Điều 4 của Luật Giáo dục cũng nêu khái niệm trường đại học như sau: “trường đại học, học viện là cơ sở giáo dục đại học đào tạo, nghiên cứu nhiều ngành, được cơ cấu tổ chức theo quy định của Luật này … Các đơn vị cấu thành đại học cùng thống nhất thực hiện mục tiêu, sứ mạng, nhiệm vụ chung.” 14 Qua các quan điểm trên có thể thấy, trường đại học là một thiết chế có chức năng hoạt động giáo dục bao gồm nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực mới. Trường đại học thực hiện chức năng giáo dục bậc cao, tiếp nối quá trình giáo dục bậc phổ thông. Đồng thời, trường đại học luôn thể hiện vai trò xã hội thông qua các nghiên cứu ứng dụng và hoạt động phục vụ cộng đồng.
Đoàn Thanh niên – Hội Sinh viên Trước khi đi đến khái niệm ĐTN-HSV, chúng tôi đề cập đến khái niệm tổ chức TN - tổ chức SV. Ở Việt Nam, khái niệm tổ chức TN được xác định rộng hơn khái niệm tổ chức SV, được định nghĩa tại điều 32 trong Luật Thanh niên (2005) như sau: “Tổ chức TN là tổ chức tự nguyện của TN, với mục đích đoàn kết, tập hợp TN vì quyền và lợi ích của TN. Đồng thời phát huy vai trò của TN trong quá trình xây dựng đất nước”. Theo đó, tổ chức TN ở Việt Nam bao gồm: Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp TN Việt Nam, HSV Việt Nam và các tổ chức tập hợp TN khác, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật.
Trong khi đó, Đoàn TNCS HCM được định nghĩa trong Luật TN (2005) “là tổ chức chính trị - xã hội của TN Việt Nam, giữ vai trò nòng cốt trong phong trào TN; tổ chức, hướng dẫn hoạt động của thiếu niên, nhi đồng, phụ trách Đội thiếu niên tiền phong Hồ Chí Minh”. HSV Việt Nam được định nghĩa trong Điều lệ HSV Việt Nam (2009) “là Tổ chức chính trị - xã hội của SV Việt Nam, đoàn kết tập hợp rộng rãi mọi SV Việt Nam”. Như vậy, ĐTN-HSV ở trường đại học là tổ chức TN hoạt động trong khuôn khổ trường đại học Việt Nam. Ở trường đại học, ĐTN-HSV hoạt động theo nhiệm vụ, mục đích và định hướng chung của nhà trường.
Đồng thời, ở cấp độ này, ĐTN-HSV được gọi là cơ sở Đoàn, cơ sở Hội có chức năng thực hiện công tác TN trong khu vực trường học, là nơi tiếp xúc trực tiếp với đối tượng TN cụ thể là SV. Vì vậy mà ĐTN-HSV ở trường đại học có hình thức, phương pháp, nội dung hoạt động chi tiết không chỉ tương ứng với định hướng của nhà trường, mà còn phù hợp với chỉ đạo của tổ chức TN cấp trên. Đề cập đến khái niệm tổ chức TN thì không thể bỏ qua khái niệm công tác TN. Khái niệm này được định nghĩa theo nghị định số 120/2007/NĐ-CP “Hướng dẫn thi hành một số điều của luật TN” (khoản 2, điều 4) như sau: “Công tác TN là những hoạt động của Đảng, Nhà nước, xã hội nhằm giáo dục, bồi dưỡng, tạo điều kiện thuận lợi 15 cho TN phấn đấu và trưởng thành, đồng thời phát huy vai trò xung kích, sức sáng tạo và tiềm năng to lớn của TN trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc”.
Ở trường đại học, công tác TN luôn đồng thời với công tác SV. Đó là nhiệm vụ của Nhà trường nói chung nhằm đảm bảo hoạt động giáo dục đào tạo, bồi dưỡng, tạo điều kiện cho SV phát huy tiềm năng và phát triển toàn diện. Đồng thời, công tác TN ở trường đại học cũng đáp ứng các yêu cầu của thời đại hội nhập.