Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Văn hóa học (mã số: 9229040) với đề tài "Văn hóa gia đình của nữ công nhân ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh Trang thực hiện tại Trường Đại học Trà Vinh năm 2024, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Phạm Thị Thu Yến.
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế thúc đẩy sự hình thành và mở rộng các khu công nghiệp tại tỉnh Vĩnh Long. Đặc thù sản xuất của nhiều nhà máy, xí nghiệp ưu tiên tuyển dụng tỷ lệ lớn lao động nữ, kéo theo sự biến đổi sâu sắc trong nếp sống, phương thức sinh hoạt và các giá trị văn hóa gia đình truyền thống của người phụ nữ nông thôn khi chuyển sang môi trường lao động công nghiệp. Dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách chăm lo cho giai cấp công nhân, việc xây dựng đời sống văn hóa gia đình cho nữ công nhân tại chỗ vẫn bộc lộ nhiều bất cập, hệ thống thiết chế văn hóa chưa đồng bộ và nhu cầu hưởng thụ văn hóa chưa được đáp ứng thỏa đáng. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định là cho đến thời điểm thực hiện, chưa có công trình khoa học nào nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về văn hóa gia đình của nữ công nhân tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long nói riêng và vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung.
Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm:
- Mục tiêu chung: Nhận diện một cách tổng quan và đầy đủ thực trạng văn hóa gia đình của nữ công nhân ở tỉnh Vĩnh Long; xác định các yếu tố tác động đến quá trình xây dựng văn hóa gia đình; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp nhằm xây dựng văn hóa gia đình và nâng cao chất lượng đời sống của nữ công nhân trong bối cảnh xã hội hiện nay.
- Mục tiêu cụ thể:
- Tập hợp và phân tích các công trình nghiên cứu đi trước cùng cơ sở lý luận về giới, gia đình, văn hóa, văn hóa gia đình và đời sống của giai cấp công nhân.
- Khảo sát thực tế địa bàn 02 khu công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long là Khu công nghiệp Hòa Phú và Khu công nghiệp Bình Minh.
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng văn hóa gia đình của nữ công nhân trước tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và xu hướng biến đổi xã hội qua các phương pháp liên ngành.
- Nhận diện các yếu tố tác động, các vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra; luận bàn các định hướng, cơ chế, chính sách và giải pháp nâng cao chất lượng đời sống văn hóa gia đình cho nữ công nhân.
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu của luận án:
- Câu hỏi 1: Văn hóa gia đình của nữ công nhân lao động ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay và vấn đề xây dựng văn hóa gia đình của nữ công nhân đang diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi 2: Vấn đề xây dựng văn hóa gia đình nữ công nhân trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long hiện nay có những yếu tố nào tác động? Tại sao?
- Câu hỏi 3: Cần có những định hướng, giải pháp gì để nâng cao chất lượng văn hóa gia đình nữ công nhân lao động trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay?
Giả thuyết nghiên cứu của luận án:
- Giả thuyết 1: Văn hóa gia đình của nữ công nhân tại Vĩnh Long đã từng bước được cải thiện, nhưng việc xây dựng văn hóa gia đình vẫn còn nhiều bất cập, chồng chéo; các thiết chế văn hóa chưa đáp ứng đồng bộ khiến một bộ phận công nhân chưa được hưởng thụ văn hóa hợp lý, các lĩnh vực văn hóa gia đình chưa được quan tâm đúng mức.
- Giả thuyết 2: Quá trình xây dựng văn hóa gia đình nữ công nhân chịu sự tác động đan xen của các nhóm yếu tố chính sách, kinh tế, văn hóa - xã hội và khoa học - kỹ thuật trong bối cảnh phát triển và hội nhập.
- Giả thuyết 3: Để giải quyết các rào cản và phát huy thế mạnh, cần có các định hướng chiến lược mang tính chất đồng bộ, phù hợp với từng nhóm đối tượng công nhân cụ thể.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Văn hóa gia đình của nữ công nhân lao động tại các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào văn hóa tổ chức hoạt động kinh tế gia đình, xây dựng tình yêu đôi lứa, quan hệ ứng xử giữa các thế hệ, chăm sóc và giáo dục con cái, phụng dưỡng cha mẹ, ứng xử họ hàng thân tộc, ứng xử cộng đồng xóm giềng và thụ hưởng các phúc lợi xã hội (giáo dục, y tế, văn hóa nghệ thuật, thể dục thể thao, tín ngưỡng, lễ hội, phong tục).
- Phạm vi không gian: Khu công nghiệp Hòa Phú (huyện Long Hồ) và Khu công nghiệp Bình Minh (thị xã Bình Minh), cùng các khu dân cư, khu nhà trọ công nhân sinh sống trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo sát thực trạng trong giai đoạn 05 năm (2017 - 2022), đồng thời đối chiếu với văn hóa gia đình truyền thống để nhận diện sự biến đổi.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo hai nhóm nội dung chính:
Thứ nhất, các nghiên cứu quốc tế và trong nước về gia đình và văn hóa gia đình:
- Nghiên cứu quốc tế: Điểm lại các tư tưởng cổ đại của Platon, Aristotle về gia đình phụ quyền, tiếp nối bằng tác phẩm "Mẫu quyền" (1861) của Johann Jakob Bachofen khẳng định nguồn gốc mẫu quyền trong chế độ tạp hôn nguyên thủy; công trình "Nghiên cứu lịch sử cổ đại - Hôn nhân nguyên thủy" (1866) của McLennan phát hiện thiết chế ngoại hôn; tác phẩm "Xã hội cổ đại" (1871) của Lewis Henry Morgan đề xuất thuyết tiến hóa qua sáu hình thái gia đình (sau này được khoa học chỉnh lý, bác bỏ hình thái gia đình huyết tộc và Punalua); tác phẩm "Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước" (1884) của Friedrich Engels làm rõ mối liên hệ giữa sản xuất tư liệu sinh hoạt và tái sản xuất con người; các mô hình phân loại gia đình hạt nhân, đại gia đình, gia đình mở rộng của xã hội học hiện đại.
- Nghiên cứu trong nước: Công trình của Trần Đình Hượu (1991) về vai trò nền tảng của gia đình Việt Nam; nghiên cứu của Trung tâm nghiên cứu khoa học về gia đình và phụ nữ (1995) và Lê Minh (1997) về vị thế của phụ nữ; Nguyễn Đình Xuân (1997) về giáo dục đời sống gia đình; Tạ Văn Thành (1997) phân tích tiêu chuẩn gia đình văn hóa; Vũ Ngọc Khánh (1998) nghiên cứu gia phong và nếp nhà; Trần Thị Vân Anh và Lê Ngọc Hùng (2000) về giới và phát triển; Nguyễn Linh Khiếu (2001) về biến đổi văn hóa gia đình nông thôn; Lê Như Hoa (2001) về sự hình thành nhân cách trẻ em; Dương Thị Minh (2004) về chức năng tâm lý tình cảm của phụ nữ; Mai Quỳnh Nam (2004) hệ thống hóa lý thuyết nữ quyền và quan điểm giới; Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2010) và Vụ Bình đẳng giới - Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (2011) tổng kết tiêu chí gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc; Lê Ngọc Văn (2011) về cấu trúc và sự biến đổi văn hóa gia đình; Nguyễn Văn Bốn (2012) bàn về dân chủ hóa trong gia đình; Đào Thị Mai Ngọc (2014) về giá trị truyền thống và hiện đại; Đặng Thị Thúy Hằng (2015) và Nguyễn Thị Nguyệt (2015) khảo sát đời sống văn hóa gia đình tại Hà Tĩnh dưới tác động công nghiệp hóa và tái định cư.
Thứ hai, các nghiên cứu về đời sống công nhân và văn hóa gia đình công nhân:
- Tác phẩm "Đời sống xã hội Việt Nam đương đại tập 1 (Tình cảnh sống của người công nhân: thân phận, rủi ro và chiến lược sống)" (2016) của Nguyễn Đức Lộc và cộng sự, sử dụng phương pháp PRA và phân tích mạng lưới xã hội của công nhân khu công nghiệp.
- Cụm công trình của Lê Thị Quý: "Bạo lực gia đình - Một sự sai lệch về giá trị" (2007), "Gia đình học" (2007), "Giáo trình Xã hội học Giới" (2007), "Giáo trình Xã hội học Gia đình" (2011) cung cấp khung phân tích về giới, bình đẳng giới, phân công lao động và phòng chống bạo lực gia đình.
- Hệ thống văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam: Chỉ thị 03/CT-TLĐ (2010), Nghị quyết 6b/TLĐ (2011), Quyết định số 1780/QĐ-TTg (2011) phê duyệt Đề án xây dựng đời sống văn hóa công nhân ở các khu công nghiệp, Nghị quyết số 03a/NQ-TLĐ (2014) về nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho công nhân.
Vị trí và khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận công nhân dưới góc độ kinh tế - xã hội, quan hệ lao động, mức sống thuần túy hoặc nghiên cứu văn hóa gia đình ở các cộng đồng nông thôn, đô thị lớn và vùng biển. Luận án này định vị là công trình chuyên biệt đầu tiên trong ngành Văn hóa học đi sâu khảo sát văn hóa gia đình của nữ công nhân tại địa bàn cụ thể là tỉnh Vĩnh Long, bổ sung dữ liệu thực nghiệm về một bộ phận lao động đặc thù tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long trong giai đoạn chịu tác động của thời đại công nghiệp 4.0 và ảnh hưởng hậu đại dịch Covid-19.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung khái niệm
- Lý thuyết cấu trúc chức năng: Kế thừa quan điểm của Auguste Comte, Herbert Spencer, Emile Durkheim, Bronislaw Malinowski, A.R. Radcliffe-Brown, và đặc biệt là hai đại diện tiêu biểu George Murdock và Talcott Parsons. George Murdock xác định 4 chức năng phổ quát cơ bản của gia đình gồm chức năng tình dục, tái sinh sản, giáo dục và kinh tế. Talcott Parsons nhấn mạnh sự phân công vai trò theo giới: người chồng đảm nhận vai trò công cụ (tạo thu nhập, kinh tế), người vợ đảm nhận vai trò biểu cảm (chăm sóc, nuôi dưỡng, giảm căng thẳng). Luận án vận dụng thuyết cấu trúc chức năng để xem xét sự vận hành, tương tác giữa các thành tố trong gia đình nữ công nhân và mức độ thích ứng của các chức năng gia đình khi người phụ nữ tham gia vào dây chuyền sản xuất công nghiệp.
- Khung khái niệm công cụ:
- Giai cấp công nhân và nữ công nhân: Căn cứ Nghị quyết số 20-NQ/TW (khóa X) ngày 28/01/2008 về xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam, xác định công nhân là người bán sức lao động hưởng lương trong sản xuất công nghiệp, dịch vụ công nghiệp; nữ công nhân là người lao động thuộc giới nữ trong lực lượng này.
- Khu công nghiệp: Căn cứ Nghị định số 82/2018/NĐ-CP ngày 22/5/2018 của Chính phủ quy định về quản lý khu công nghiệp và khu kinh tế.
- Văn hóa: Vận dụng các định nghĩa của UNESCO, định nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh (văn hóa là toàn bộ những sáng tạo và phát minh vì lẽ sinh tồn và mục đích cuộc sống) và định nghĩa của Trần Ngọc Thêm (hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo qua thực tiễn tương tác tự nhiên và xã hội).
- Gia đình và văn hóa gia đình: Kết hợp quan điểm của Friedrich Engels (hai loại hình sản xuất: tư liệu sinh hoạt và con người), Lê Minh, Lê Thi, Nguyễn Linh Khiếu, Ngô Đức Thịnh, Nguyễn Hồng Mai, Lê Ngọc Văn. Tác giả khái quát: Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình gắn với điều kiện kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng theo cách tiếp cận liên ngành Văn hóa học (kết hợp xã hội học, tâm lý học, nhân học, quản lý văn hóa):
- Phương pháp điều tra định lượng: Tiến hành khảo sát bằng bảng hỏi đối với 500 nữ công nhân đang làm việc tại Khu công nghiệp Hòa Phú và Khu công nghiệp Bình Minh theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống.
| STT |
Địa bàn khảo sát (Khu công nghiệp) |
Quy mô công nhân lao động |
Tỷ lệ cơ cấu (%) |
Cỡ mẫu khảo sát (người) |
| 1 |
Khu công nghiệp Hòa Phú |
33.000 |
68,80 |
334 |
| 2 |
Khu công nghiệp Bình Minh |
15.000 |
31,20 |
156 |
| Tổng |
Hai khu công nghiệp |
48.000 |
100,00 |
500 |
- Phương pháp điều tra định tính:
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với 22 công nhân (nam và nữ), 11 chủ nhà trọ, 26 cán bộ quản lý doanh nghiệp và cán bộ công đoàn cơ sở tại các công ty trong khu công nghiệp.
- Phỏng vấn chiến lược: Trao đổi với chủ doanh nghiệp, cán bộ công đoàn, đại diện chính quyền địa phương, người cao tuổi am hiểu văn hóa cộng đồng.
- Quan sát tham dự: Trực tiếp tham gia, quan sát nếp sống, sinh hoạt thường nhật, các sự kiện văn hóa gia đình của nữ công nhân tại các khu dân cư và xóm trọ từ năm 2018 đến 2022.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh văn hóa gia đình của nữ công nhân với các nhóm nghề nghiệp khác trên địa bàn như nữ công chức, viên chức, nông dân, tiểu thương.
- Kỹ thuật xử lý dữ liệu:
- Dữ liệu định lượng: Xử lý và phân tích bằng phần mềm SPSS (phiên bản 20 / SPSS 2022), bao gồm phân tích thống kê mô tả thang đo và phân tích tương quan giữa các biến số.
- Dữ liệu định tính: Băng ghi âm phỏng vấn sâu được gỡ băng văn bản trên Microsoft Word, phân loại nội dung kết hợp biên bản quan sát tham dự để phân tích, biện giải.
- Nguồn tư liệu: Thu thập từ các báo cáo hành chính, số liệu thống kê của Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Ban Quản lý các khu công nghiệp tỉnh, Liên đoàn Lao động tỉnh, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Công đoàn các KCN, Đồn Công an KCN, Trạm Y tế, Bệnh viện, Tỉnh Đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp, UBND huyện Long Hồ và thị xã Bình Minh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu, cơ sở lý luận và khái quát về địa bàn nghiên cứu
Chương này dành cho việc hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu liên quan đến gia đình, văn hóa gia đình và công nhân; xác lập hệ thống cơ sở lý luận và các khái niệm công cụ của luận án; đồng thời giới thiệu diện mạo kinh tế - xã hội tỉnh Vĩnh Long và hai khu công nghiệp trọng điểm:
- Khu công nghiệp Hòa Phú (huyện Long Hồ): Có quy mô 33.000 công nhân, mật độ tập trung các nhà xưởng gia công lớn (dệt may, da giày), kéo theo hệ thống nhà trọ dân lập dày đặc và các vấn đề an ninh trật tự, vệ sinh môi trường.
- Khu công nghiệp Bình Minh (thị xã Bình Minh): Có quy mô 15.000 công nhân, nằm ở vị trí cửa ngõ tiếp giáp thành phố Cần Thơ, có hạ tầng cảng và sản xuất công nghiệp kết hợp khu dân cư.
- Đặc điểm của mẫu khảo sát: Phản ánh cơ cấu đa dạng về nhóm tuổi, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, mức thu nhập trung bình, thời gian làm việc (tần suất tăng ca) và điều kiện ăn ở, sinh hoạt thực tế tại các khu nhà trọ hoặc nhà riêng tại nông thôn.
Chương 2: Đặc điểm văn hóa xây dựng tình yêu đôi lứa và văn hóa tổ chức hoạt động kinh tế gia đình nữ công nhân ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long
Chương 2 tập trung phân tích hai lĩnh vực cốt lõi trong đời sống gia đình của nữ công nhân:
- Văn hóa xây dựng tình yêu đôi lứa:
- Quan niệm về hôn nhân và tiêu chuẩn chọn bạn đời: Xu hướng đề cao sự hòa hợp, tính chịu khó, sẻ chia trách nhiệm kinh tế và gia đình, dịch chuyển dần khỏi các ràng buộc môn đăng hộ đối truyền thống nhưng vẫn coi trọng tính bền vững.
- Quan niệm về trinh tiết, sống thử và quyền tự do lựa chọn bạn đời: Nhận thức của nữ công nhân có sự cởi mở hơn trước hiện tượng sống thử trước hôn nhân dưới góc nhìn thực tế (chia sẻ chi phí tiền phòng, hỗ trợ sinh hoạt ca kíp), song đa số vẫn giữ thái độ thận trọng đối với các hệ lụy xã hội; quyền tự quyết trong hôn nhân được đề cao rõ rệt so với thế hệ trước.
- Phân công lao động trong gia đình: Khảo sát thực tế về việc chia sẻ việc nhà giữa vợ và chồng. Mặc dù phụ nữ đi làm công xưởng trọn vẹn thời gian như nam giới, gánh nặng công việc nội trợ, nấu ăn, dọn dẹp vẫn dồn phần lớn lên người phụ nữ, tạo nên tình trạng "gánh nặng kép" (lao động sản xuất và lao động gia đình).
- Mâu thuẫn và giải quyết mâu thuẫn: Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chủ yếu do áp lực tài chính, thời gian tăng ca thiếu hụt giao tiếp vợ chồng, việc phân công việc nhà không công bằng và việc quản lý thời gian nhàn rỗi; phương thức giải quyết chủ yếu là nhường nhịn, tâm sự, tự thỏa thuận nội bộ gia đình.
- Văn hóa tổ chức hoạt động kinh tế gia đình:
- Quản lý thu nhập và chi tiêu: Đa số gia đình nữ công nhân duy trì mô hình người vợ giữ tay hòm chìa khóa hoặc hai vợ chồng cùng quản lý, lên kế hoạch chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu (tiền thuê trọ, ăn uống, gửi tiền về quê, chi phí nuôi con).
- Giải quyết khó khăn kinh tế: Khi đối mặt với biến động giảm giờ làm, mất việc hoặc đau ốm, các phương án tài chính được lựa chọn theo thứ tự ưu tiên: rút tiền tiết kiệm, vay mượn người thân trong họ hàng, vay đồng nghiệp, và một tỷ lệ nhất định phải tiếp cận các nguồn vay tín dụng tiêu dùng hoặc các hội nhóm tiết kiệm xoay vòng.
Chương 3: Đặc điểm văn hóa ứng xử của gia đình nữ công nhân ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long
Chương 3 đi sâu làm rõ các chiều cạnh ứng xử bên trong gia đình và các mối quan hệ giao tiếp xã hội:
- Văn hóa ứng xử trong gia đình:
- Chăm sóc và giáo dục con cái: Nữ công nhân chịu áp lực nặng nề về thời gian do đặc thù ca kíp và tăng ca thường xuyên. Biện pháp phổ biến là gửi con về quê nhờ ông bà chăm sóc hoặc gửi nhà trẻ tư thục, dẫn đến sự thiếu hụt thời gian gần gũi, giám sát việc học tập và uốn nắn tâm lý trẻ vị thành niên.
- Phụng dưỡng ông bà, cha mẹ: Duy trì đạo hiếu truyền thống thông qua việc gửi tiền phụng dưỡng hàng tháng, thăm hỏi vào dịp cuối tuần hoặc các kỳ nghỉ lễ, tết; ứng xử kính trọng người lớn tuổi trong gia đình.
- Ứng xử với họ hàng, thân tộc: Tiếp tục duy trì nghĩa vụ thăm viếng, đám tiệc, hiếu hỷ trong dòng họ, tuy nhiên mức độ tham gia trực tiếp bị thu hẹp do hạn chế về thời gian nghỉ ngơi.
- Văn hóa ứng xử ngoài xã hội:
- Ứng xử với xóm giềng và cộng đồng: Tại các khu nhà trọ, mối quan hệ xóm giềng giữa các phòng trọ thể hiện sự tương trợ, hỗ trợ lẫn nhau lúc hoạn nạn, đau ốm nhưng thiếu tính gắn kết cộng đồng bền vững do tính chất di biến động của người thuê trọ.
- Thụ hưởng phúc lợi xã hội và thiết chế văn hóa: Nữ công nhân gặp khó khăn lớn trong việc tiếp cận các hoạt động vui chơi giải trí lành mạnh, thể dục thể thao, tham quan du lịch do thiếu thời gian và điều kiện kinh phí; hoạt động giải trí trong thời gian rảnh rỗi chủ yếu mang tính thụ động tại phòng trọ (sử dụng điện thoại thông minh, lướt mạng xã hội); mức độ tham gia sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng được duy trì vào các dịp lễ tết truyền thống; việc tiếp cận các chương trình tuyên truyền sức khỏe sinh sản, pháp luật lao động còn phụ thuộc vào các đợt vận động của tổ chức công đoàn.
Chương 4: Những yếu tố tác động đến xây dựng văn hóa gia đình nữ công nhân và những vấn đề đặt ra trong xây dựng văn hóa gia đình hiện nay
Chương 4 tổng hợp các yếu tố chi phối và bàn luận các vấn đề giải pháp:
- Các nhóm yếu tố tác động:
- Yếu tố chính sách: Hệ thống pháp luật về lao động, tiền lương tối thiểu, chính sách bảo hiểm xã hội, nhà ở xã hội, các thiết chế trường mầm non tại khu công nghiệp, cùng các chính sách bình đẳng giới và vì sự tiến bộ của phụ nữ.
- Yếu tố kinh tế: Mức thu nhập, chế độ đãi ngộ của doanh nghiệp, biến động giá cả thị trường sinh hoạt, tính chất bấp bênh của chuỗi cung ứng sản xuất hàng xuất khẩu.
- Yếu tố văn hóa - xã hội: Lối sống đô thị hóa, các trào lưu tiêu dùng mới, chuẩn mực giới truyền thống đan xen với các giá trị bình đẳng hiện đại, định kiến giới còn tồn tại ở gia đình và nơi làm việc.
- Yếu tố khoa học - kỹ thuật: Quá trình tự động hóa dây chuyền sản xuất đòi hỏi tác phong công nghiệp khắt khe; sự bùng nổ của mạng xã hội và thiết bị số làm thay đổi phương thức tương tác giữa các thành viên gia đình.
- Vấn đề đặt ra và nhóm giải pháp: Luận án phân tích các vấn đề chung và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện thiết chế công đoàn, quy hoạch hạ tầng xã hội đi kèm khu công nghiệp (nhà trẻ, khu nhà ở công nhân, điểm vui chơi), nâng cao nhận thức bình đẳng giới cho cả nam và nữ công nhân, củng cố năng lực tổ chức cuộc sống gia đình cho lao động nữ.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án góp phần làm phong phú thêm hệ thống lý luận của chuyên ngành Văn hóa học về văn hóa gia đình khi tiếp cận một đối tượng xã hội cụ thể là nữ công nhân lao động tại các khu công nghiệp địa phương.
- Cung cấp khung phân tích liên ngành tích hợp giữa văn hóa học, xã hội học gia đình và giới, làm rõ phương thức vận hành của các chức năng gia đình (tái sinh sản, kinh tế, giáo dục, tình cảm) khi bị chi phối bởi kỷ luật lao động công nghiệp và sự biến đổi từ lối sống nông thôn sang lối sống công nghiệp.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Đây là công trình đầu tiên khảo sát chuyên sâu, có hệ thống dữ liệu thực nghiệm quy mô 500 mẫu định lượng cùng hệ thống phỏng vấn sâu, quan sát tham dự tại hai khu công nghiệp Hòa Phú và Bình Minh (Vĩnh Long).
- Phản ánh chân thực bức tranh đa chiều về đời sống nữ công nhân: điều kiện ăn ở tại các khu nhà trọ dân sinh, cơ cấu thu nhập và chi tiêu, áp lực làm thêm giờ, thực trạng nuôi dạy con cái từ xa và khoảng trống trong thụ hưởng các thiết chế văn hóa tinh thần.
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực tiễn và luận cứ khoa học tin cậy cho Tỉnh ủy, Ủy ban Nhân dân tỉnh Vĩnh Long, Liên đoàn Lao động tỉnh, Ban Quản lý các khu công nghiệp và các tổ chức đoàn thể trong việc hoạch định chính sách an sinh xã hội, phát triển nhà ở xã hội, trường mầm non, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần cho người lao động.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của luận án: Luận án giới hạn địa bàn khảo sát tại 02 khu công nghiệp tập trung trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn 2017 - 2022; đối tượng khảo sát trọng tâm là nữ công nhân nên số liệu so sánh chéo với nam công nhân và các khu vực lân cận ngoài tỉnh chưa được mở rộng sâu sắc.
- Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi nghiên cứu so sánh văn hóa gia đình của công nhân tại các tỉnh, thành khác trong vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng sông Cửu Long hoặc giữa các loại hình doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và doanh nghiệp tư nhân trong nước.
- Đi sâu nghiên cứu tác động dài hạn của công nghệ số, kinh tế nền tảng và biến động việc làm sau đại dịch Covid-19 đối với sự biến đổi cấu trúc gia đình và tâm lý trẻ em là con của nữ công nhân khu công nghiệp.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo chuyên môn đối với các nhóm đối tượng và lĩnh vực:
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Văn hóa học, Xã hội học, Nhân học, Quản lý văn hóa và Công tác xã hội: Luận án là tài liệu tham khảo về phương pháp luận nghiên cứu liên ngành, quy trình thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu hỗn hợp (kết hợp định lượng SPSS và phỏng vấn sâu định tính) trong nghiên cứu văn hóa đời sống.
- Đối với giảng viên: Cung cấp nguồn học liệu thực tế phục vụ giảng dạy các chuyên đề về Văn hóa gia đình, Xã hội học gia đình, Xã hội học giới và Đời sống văn hóa công nhân.
- Đối với cán bộ hoạch định chính sách, tổ chức Công đoàn và Hội Liên hiệp Phụ nữ: Cung cấp luận cứ thực tiễn trực tiếp về nhu cầu nhà ở, trường lớp cho con công nhân, mức độ tiếp cận dịch vụ y tế và các thiết chế văn hóa tinh thần, hỗ trợ công tác tham mưu các đề án an sinh và bình đẳng giới tại các khu công nghiệp.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu khảo sát định lượng của luận án được phân bổ như thế nào tại các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long?
Mẫu khảo sát định lượng gồm 500 nữ công nhân được chọn theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống tại 02 khu công nghiệp đang hoạt động trên địa bàn tỉnh Vĩnh Long:
- Khu công nghiệp Hòa Phú: Khảo sát 334 nữ công nhân (trên tổng số 33.000 công nhân, chiếm tỷ lệ 68,80% quy mô lao động).
- Khu công nghiệp Bình Minh: Khảo sát 156 nữ công nhân (trên tổng số 15.000 công nhân, chiếm tỷ lệ 31,20% quy mô lao động).
2. Luận án vận dụng những lý thuyết và công cụ lý luận chủ đạo nào?
Luận án vận dụng lý thuyết cấu trúc chức năng (với các đại biểu then chốt là George Murdock về 4 chức năng gia đình và Talcott Parsons về phân công vai trò giới công cụ - biểu cảm), lý thuyết tiến hóa gia đình (Johann Jakob Bachofen, Lewis Henry Morgan, Friedrich Engels), quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và gia đình, cùng các quan điểm giới và bình đẳng giới của các học giả chuyên ngành trong nước.
3. Phương pháp thu thập dữ liệu định tính của luận án gồm những thao tác nào?
Phương pháp định tính bao gồm:
- Phỏng vấn sâu: 22 công nhân nam và nữ, 11 chủ nhà trọ, 26 cán bộ quản lý và cán bộ công đoàn cơ sở.
- Phỏng vấn chiến lược: Đối tượng là chủ doanh nghiệp, cán bộ công đoàn, đại diện chính quyền địa phương, người cao tuổi am hiểu văn hóa.
- Quan sát tham dự: Tác giả trực tiếp tham gia vào sinh hoạt, sự kiện văn hóa của gia đình nữ công nhân tại các khu dân cư và xóm trọ liên tục trong giai đoạn 2018 - 2022.
4. Văn hóa gia đình của nữ công nhân được phân tích qua những nhóm nội dung cốt lõi nào?
Nội dung văn hóa gia đình được luận án triển khai qua 3 nhóm cấu trúc chính:
- Văn hóa xây dựng tình yêu đôi lứa và tổ chức kinh tế gia đình: Tiêu chuẩn bạn đời, quan niệm trinh tiết, sống thử, phân công việc nhà, giải quyết mâu thuẫn, quản lý chi tiêu và giải quyết khó khăn tài chính.
- Văn hóa ứng xử trong gia đình: Chăm sóc, nuôi dạy con cái, phụng dưỡng ông bà cha mẹ, ứng xử họ hàng thân tộc.
- Văn hóa ứng xử ngoài xã hội và thụ hưởng phúc lợi: Quan hệ xóm giềng xóm trọ, tham gia giao lưu cộng đồng, thụ hưởng các dịch vụ y tế, giáo dục, giải trí, thể thao và sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo.
5. Những nhóm yếu tố nào tác động trực tiếp đến việc xây dựng văn hóa gia đình nữ công nhân?
Luận án xác định 4 nhóm yếu tố tác động trực tiếp bao gồm:
- Nhóm yếu tố chính sách: Luật pháp, chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, nhà ở xã hội và chính sách bình đẳng giới.
- Nhóm yếu tố kinh tế: Mức thu nhập thực tế, chi phí sinh hoạt, tính chất việc làm và áp lực tăng ca.
- Nhóm yếu tố văn hóa - xã hội: Quá trình đô thị hóa, định kiến giới, sự biến đổi hệ giá trị truyền thống sang hiện đại.
- Nhóm yếu tố khoa học - kỹ thuật: Kỷ luật dây chuyền sản xuất tự động hóa và tác động của không gian mạng, thiết bị số.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Văn hóa gia đình của nữ công nhân ở các khu công nghiệp tỉnh Vĩnh Long" của tác giả Nguyễn Thị Minh Trang là công trình khoa học chuyên ngành Văn hóa học phản ánh có hệ thống thực trạng đời sống gia đình của lao động nữ trong môi trường công nghiệp địa phương. Dựa trên nguồn dữ liệu hỗn hợp phong phú từ 500 phiếu khảo sát định lượng kết hợp phỏng vấn sâu và quan sát tham dự thực địa giai đoạn 2017 - 2022, luận án đã làm rõ sự biến đổi của các giá trị văn hóa gia đình truyền thống trong tình yêu đôi lứa, tổ chức kinh tế, giáo dục con cái và thụ hưởng văn hóa dưới áp lực ca kíp và điều kiện sinh hoạt nhà trọ. Công trình xác định rõ các yếu tố tác động từ chính sách, kinh tế đến văn hóa - kỹ thuật, qua đó cung cấp cơ sở khoa học xác thực phục vụ việc hoàn thiện các giải pháp nâng cao chất lượng đời sống văn hóa gia đình cho nữ công nhân thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.