MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế làm cho môi trƣờng kinh doanh thay đổi một cách nhanh chóng với áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng đối với các doanh nghiệp. Để thành công, các doanh nghiệp phải thích ứng đƣợc với sự biến đổi của thị trƣờng và tạo cho mình những lợi thế cạnh tranh bền vững. Nhiều doanh nghiệp đã sử dụng Văn hóa doanh nghiệp (VHDN) nhƣ một thứ tài sản vô hình nhằm góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Một số kết quả nghiên cứu cho thấy VHDN có ảnh hƣởng tích cực đến việc nâng cao hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp (Ojo, 2009; Shahzad vào cộng sự, 2012), tăng cƣờng tính đồng thuận của tổ chức, nâng cao năng suất làm việc, tăng cƣờng tính tự giác của nhân viên (Nguyễn Mạnh Quân, 2004), đồng thời, là nhân tố quan trọng đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp (Dƣơng Thị Liễu, 2008). Trong thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế quốc tế ngày nay, VHDN đóng vai trò quan trọng trong việc định hình tầm nhìn, chiến lƣợc, sứ mệnh và xây dựng thƣơng hiệu cho mỗi doanh nghiệp, ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài xu hƣớng trên. Dịch vụ ngân hàng thuộc loại hình dịch vụ cao cấp và phức tạp, vì vậy những yêu cầu, đòi hỏi đối với nhân tố con ngƣời phải ở mức độ cao hơn. Nói cách khác, việc xây dựng phát triển văn hóa vốn gắn liền với yếu tố con ngƣời thuộc các ngân hàng thƣơng mại (NHTM) dƣờng nhƣ khó khăn hơn, vừa phải đảm bảo có tính chung của văn hóa quốc gia, dân tộc, vùng miền, vừa có những đặc điểm riêng trong văn hóa ngành ngân hàng và bản sắc riêng của từng đơn vị.
So với hệ thống NHTM trên thế giới, hệ thống NHTM của Việt Nam còn khá non trẻ. Tuy nhiên, hệ thống NHTM Việt Nam cũng đã có sự phát triển mạnh mẽ sau khi Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới năm 1986, đánh dấu bằng việc chuyển từ hệ thống ngân hàng đơn cấp sang cơ chế ngân hàng hai cấp với sự phân tách riêng rẽ trong hoạt động của các NHTM với Ngân hàng Nhà nƣớc. Dựa vào hình thức sở hữu, hệ thống NHTM ở Việt Nam đƣợc chia thành: NHTM Nhà nƣớc (NHTM do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ và NHTM cổ phần 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com do Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ), NHTM cổ phần tƣ nhân (NHTM được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần và Nhà nước sở hữu dưới 50% vốn điều lệ); NHTM liên doanh (NHTM được thành lập tại Việt Nam, bằng vốn góp của Bên Việt Nam và Bên nước ngoài trên cơ sở hợp đồng liên doanh); Chi nhánh ngân hàng nƣớc ngoài (chi nhánh mở tại Việt Nam của NHTM được thành lập theo pháp luật nước ngoài) và NHTM 100% vốn nƣớc ngoài (NHTM được thành lập tại Việt Nam với 100% vốn điều lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một NH nước ngoài sở hữu trên 50% vốn điều lệ). Số lƣợng các NHTM đang hoạt động tại Việt Nam đã tăng từ 4 ngân hàng năm 1988 lên đến 43 ngân hàng tính đến tháng 6 năm 2016, bao gồm 7 NHTM Nhà nƣớc, 28 NHTM cổ phần tƣ nhân, 6 NHTM 100% vốn nƣớc ngoài, 2 NHTM liên doanh, ngoài ra còn có 51 chi nhánh NHTM nƣớc ngoài cũng đang hoạt động tại Việt Nam.
Sự lớn mạnh của hệ thống NHTM Việt Nam thể hiện ở sự tăng lên của vốn chủ sở hữu, tổng tài sản, mức độ đa dạng hóa các dịch vụ cung cấp và sự đóng góp của ngành vào GDP hàng năm. Xét về tổng tài sản có, tính đến tháng 6/2016, đứng đầu là các NHTM Nhà nƣớc (chiếm 44.7% toàn hệ thống), tiếp theo là các NHTM tƣ nhân (chiếm 40.1% toàn hệ thống), phần còn lại thuộc về các loại hình NHTM khác. Bên cạnh sự khác biệt về tỷ lệ sở hữu vốn, các NHTM Nhà nƣớc và NHTM tƣ nhân, NHTM liên doanh và NHTM 100% vốn nƣớc ngoài còn khác biệt ở môt số yếu tố nhƣ: truyền thống và kinh nghiệm hoạt động tại Việt Nam; mức độ chịu ảnh hƣởng, tác động về nhân sự, quyết định quản trị của Ngân hàng Nhà nƣớc Việt Nam đối với các NHTM; mức độ tham gia của các tổ chức chính trị (tổ chức Đảng) và các tổ chức chính trị xã hội (Công Đoàn, Đoàn Thanh niên) trong hoạt động quản trị của các NHTM. Những khác biệt nêu trên cũng tạo ra sự khác biệt đáng kể về cấu trúc quản trị và đặc điểm VHDN của các NHTM Nhà nƣớc với những loại hình NHTM khác.
2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Mặc dù hạn chế về số lƣợng, nhƣng phạm vi hoạt động của các NHTM Nhà nƣớc ở Việt Nam ngày càng đƣợc mở rộng, quy mô vốn chủ sở hữu, tổng tài sản ngày càng tăng lên nhanh chóng. Với nhu cầu tăng vốn, tạo lợi thế cạnh tranh, 3 NHTM Nhà nƣớc đã tiến hành cổ phần hóa là Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Công thƣơng Việt Nam (VietinBank) và Ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam (BIDV). Các NHTM Nhà nƣớc ở Việt Nam cũng đã thể hiện nhiều nỗ lực trong việc đa dạng hóa, nâng cao chất lƣợng các sản phẩm, dịch vụ, mở rộng đầu tƣ sang một số lĩnh vực có liên quan đến ngành kinh doanh lõi là tài chính ngân hàng nhƣ bảo hiểm, chứng khoán. Năng lực quản trị của các NHTM Nhà nƣớc cũng ngày càng đƣợc cải thiện.
Điều này đƣợc minh chứng qua việc các NHTM Nhà nƣớc đã nhận đƣợc nhiều giải thƣởng do nhiều tổ chức, tạp chí uy tín trong lĩnh vực tài chính ngân hàng bình chọn. Với những bƣớc phát triển nêu trên, tỷ lệ lợi nhuận ròng của các NHTM Nhà nƣớc cũng đã có sự tăng trƣởng mạnh mẽ. Các NHTM Nhà nƣớc ở Việt Nam cũng ngày càng phải đối mặt với áp lực cạnh tranh lớn, đặc biệt là sau khi Việt Nam gia nhập WTO (1/2007). Về tổng thể, các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng đƣợc đánh giá là khá rộng rãi.
Việt Nam cam kết cho phép thành lập ngân hàng liên doanh tại Việt Nam ngay từ thời điểm Việt Nam gia nhập WTO. Về phạm vi hoạt động và loại hình dịch vụ ngân hàng, các tổ chức tín dụng (TCTD) nƣớc ngoài hoạt động tại Việt Nam đƣợc cho phép cung cấp hầu hết các loại hình dịch vụ ngân hàng nhƣ: cho vay, nhận tiền gửi, cho thuê tài chính, kinh doanh ngoại tệ, các công cụ thị trƣờng tiền tệ, các công cụ tài chính phái sinh, môi giới tiền tệ, quản lý tài sản, cung cấp dịch vụ thanh toán, tƣ vấn và thông tin tài chính. Việc thâm nhập ngày càng mạnh mẽ của các TCTD nƣớc ngoài vào thị trƣờng Việt Nam chắc chắn gây ra một áp lực cạnh tranh không nhỏ tới các NHTM nói chung và các NHTM Nhà nƣớc ở Việt Nam nói riêng. Bản thân các NHTM Nhà nƣớc cũng còn tồn tại khá nhiều hạn chế trong quá trình quản trị, triển khai hoạt động kinh doanh nhƣ: quy mô vốn nhỏ, hệ số an toàn 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vốn thấp, nợ xấu còn cao do những khó khăn từ khu vực sản xuất kinh doanh chƣa đƣợc khắc phục triệt để; hiệu suất sinh lời thấp, quy mô thu nhập sau rủi ro thấp hơn nhiều so với một số nƣớc trong khu vực; cơ cấu thu nhập còn nặng về thu lãi, thu từ hoạt động ngân hàng bán buôn, trong khi đó thu từ dịch vụ, từ bán lẻ còn chiếm tỷ trọng thấp; năng lực quản trị của các ngân hàng còn hạn chế, mô hình tổ chức quản lý chƣa đƣợc tập trung hóa, thiếu các công cụ để lƣợng hóa và phòng ngừa rủi ro….
Để nâng cao năng lực cạnh tranh, các NHTM Việt Nam đã ngày càng chú trọng đến vấn đề nâng cao hiệu quả quản trị doanh nghiệp trong đó có việc xây dựng VHDN. Nhiều NHTM thậm chí đã có những nghiên cứu nhằm xây dựng chiến lƣợc phát triển VHDN của riêng mình. Những nghiên cứu về VHDN tại các NHTM Việt Nam của các học giả cũng ngày càng nhiều hơn, thể hiện qua số lƣợng các bài đăng tạp chí khoa học và các đề tài nghiên cứu ngành quản trị kinh doanh các cấp liên quan đến chủ đề VHDN. Tuy nhiên, tính đến hết năm 2015, vẫn chƣa có đề tài nghiên cứu nào phân tích một cách khoa học, có hệ thống về sự thay đổi, điều chỉnh các đặc điểm, mô hình VHDN của các NHTM Việt Nam trong tiến trình Việt Nam hội nhập quốc tế.
Vì vậy, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Văn hóa doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế - Phân tích trường hợp Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam” làm đề tài cho luận án tiến sỹ của mình. Luận án đƣợc thiết kế nhằm đánh giá các cấp độ VHDN, xác định mô hình VHDN và sự thay đổi của các cấp độ VHDN, mô hình VHDN tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam giữa hai thời kỳ trƣớc và sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Tác giả lựa chọn Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng làm trƣờng hợp nghiên cứu điển hình của luận án với một số lý do chính nhƣ sau: (1) Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng là một trong những NHTM lớn và có truyền thống nhất của Việt Nam (việc nghiên cứu VHDN của một đơn vị sẽ có ý nghĩa hơn nếu đơn vị đó đủ lớn về quy mô và có bề dày truyền thống để nghiên cứu đƣợc sự thay đổi trong các đặc điểm VHDN); 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com (2) Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng là một NHTM Nhà nƣớc, do Nhà nƣớc sở hữu vốn chi phối và từng chịu tác động của cơ chế quản lý quan liêu bao cấp trƣớc đây. Tuy nhiên, Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng lại đƣợc nhiều chuyên gia đánh giá là một trong những NHTM Việt Nam năng động và có tốc độ phát triển nhanh nhất sau thời kỳ mở cửa.
Vì vậy, phân tích VHDN của Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng sẽ cho chúng ta thấy đƣợc một trƣờng hợp điển hình thú vị trong sự thay đổi VHDN của một doanh nghiệp Nhà nƣớc trong tiến trình hội nhập quốc tế.