Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh Để Xây Dựng Con Người Việt Nam Trong Thời Kỳ Công Nghiệp Hóa

Luận văn thạc sĩ kỹ thuật phân tích ussh vận dụng tư tưởng hồ chí minh để xây dựng con người việt nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề

Chuyên ngành

Hồ Chí Minh học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2015

96
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƯỜI - MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN

1.1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người

1.2. Những quan điểm về con người

1.3. Những quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò con người

1.4. Vai trò, ý nghĩa của chiến lược xây dựng con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh

2. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CON NGƯỜI VIỆT NAM THEO TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH TRONG THỜI KỲ CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA ĐẤT NƯỚC

2.1. Những yêu cầu về cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và thực trạng về con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.2. Những yêu cầu cơ bản của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

2.3. Thực trạng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.4. Phương pháp xây dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo tư tưởng Hồ Chí Minh

2.5. Giáo dục toàn diện, rèn đức cùng với luyện tài

2.6. Lấy con người làm trung tâm, phát huy tính chủ động, sáng tạo của con người

2.7. Kết hợp “học” đi đôi với “hành”

2.8. Một số giải pháp để xây dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá

2.9. Đổi mới, phát triển sự nghiệp giáo dục - đào tạo

2.10. Nâng cao chất lượng và hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực phù hợp với điều kiện mới

2.11. Phát huy vai trò tự tu dưỡng, tự giáo dục của con người trong điều kiện mới

2.12. Kết hợp giữa phát triển văn hoá với gia đình, nhà trường và xã hội

2.13. Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, Tổ chức Đoàn thanh niên trong quá trình xây dựng con người đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

LỜI CAM ĐOAN

Tóm tắt

I. Tổng quan về tư tưởng Hồ Chí Minh và con người Việt Nam

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người là một trong những nội dung cốt lõi trong hệ thống lý luận của Người. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con người không chỉ dừng lại ở việc xây dựng con người mới mà còn nhấn mạnh vai trò của con người trong sự nghiệp cách mạng. Trong bối cảnh hiện nay, việc vận dụng tư tưởng này vào xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa là vô cùng cần thiết.

1.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và vai trò của nó

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người thể hiện rõ nét qua các quan điểm về vai trò của con người trong sự nghiệp cách mạng. Người nhấn mạnh rằng con người là trung tâm của mọi hoạt động, là động lực cho sự phát triển của xã hội.

1.2. Những giá trị văn hóa trong tư tưởng Hồ Chí Minh

Văn hóa Việt Nam được Hồ Chí Minh coi là nền tảng để xây dựng con người mới. Những giá trị văn hóa này không chỉ giúp con người phát triển toàn diện mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

II. Thách thức trong xây dựng con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa

Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đặt ra nhiều thách thức cho việc xây dựng con người Việt Nam. Những yêu cầu mới về chất lượng nguồn nhân lực, sự phát triển bền vững và khả năng thích ứng với thay đổi là những vấn đề cần được giải quyết.

2.1. Thực trạng con người Việt Nam trong bối cảnh mới

Thực trạng con người Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề cần khắc phục, từ chất lượng giáo dục đến kỹ năng lao động. Việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yêu cầu cấp thiết.

2.2. Những yêu cầu mới về con người trong thời kỳ công nghiệp hóa

Yêu cầu về con người trong thời kỳ công nghiệp hóa không chỉ dừng lại ở việc có kiến thức mà còn cần có kỹ năng, thái độ làm việc tích cực và khả năng sáng tạo.

III. Phương pháp xây dựng con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh

Để xây dựng con người Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, cần áp dụng các phương pháp giáo dục và đào tạo phù hợp với tư tưởng Hồ Chí Minh. Những phương pháp này không chỉ giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực mà còn phát huy tính sáng tạo của con người.

3.1. Giáo dục toàn diện và rèn đức

Giáo dục toàn diện không chỉ tập trung vào kiến thức mà còn chú trọng đến việc rèn luyện đạo đức, phẩm chất con người. Đây là một trong những phương pháp quan trọng trong việc xây dựng con người mới.

3.2. Kết hợp học đi đôi với hành

Việc kết hợp giữa lý thuyết và thực hành là rất cần thiết. Điều này giúp con người có thể áp dụng kiến thức vào thực tiễn, từ đó nâng cao hiệu quả công việc.

IV. Ứng dụng thực tiễn tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng con người

Việc ứng dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn xây dựng con người Việt Nam đã mang lại nhiều kết quả tích cực. Những mô hình giáo dục, đào tạo và phát triển con người đã được triển khai và đạt được nhiều thành công.

4.1. Các mô hình giáo dục hiệu quả

Nhiều mô hình giáo dục đã được áp dụng thành công, giúp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Những mô hình này không chỉ chú trọng đến kiến thức mà còn phát huy tính sáng tạo và khả năng tự học của học sinh.

4.2. Kết quả nghiên cứu và thực tiễn

Các nghiên cứu cho thấy việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào xây dựng con người đã tạo ra những chuyển biến tích cực trong xã hội, từ đó góp phần vào sự phát triển bền vững của đất nước.

V. Kết luận và tương lai của việc xây dựng con người Việt Nam

Việc xây dựng con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tương lai của đất nước phụ thuộc vào chất lượng nguồn nhân lực, do đó cần tiếp tục phát huy những giá trị tư tưởng này.

5.1. Tầm quan trọng của việc xây dựng con người

Xây dựng con người không chỉ là nhiệm vụ của ngành giáo dục mà còn là trách nhiệm của toàn xã hội. Mỗi cá nhân cần nhận thức rõ vai trò của mình trong việc phát triển đất nước.

5.2. Định hướng tương lai cho con người Việt Nam

Định hướng tương lai cho con người Việt Nam cần tập trung vào việc phát triển toàn diện, từ kiến thức đến kỹ năng, từ đạo đức đến văn hóa. Điều này sẽ giúp con người Việt Nam đáp ứng tốt hơn với yêu cầu của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

21/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh vận dụng tư tưởng hồ chí minh để xây dựng con người việt nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người – Một số nội dung cơ bản. Chương 2: Xây dựng con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƢỜI - MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con ngƣời 1.

Những quan điểm về con người - Quan điểm trước Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về con người Triết học cổ đại khi quan niệm về con người, thường tập trung tìm hiểu về nguồn gốc con người, cấu tạo con người. theo hai xu hướng: đi tìm cái bản nguyên đầu tiên cấu tạo nên con người và thế giới; hoặc là định nghĩa con người trong mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác. Do trình độ sản xuất thấp kém, con người bất lực trước các lực lượng tự nhiên nên quan niệm về con người mang nặng tính chất thần bí. Nếu chủ nghĩa duy tâm nhấn mạnh mặt tinh thần, tư tưởng của con người thì chủ nghĩa duy vật do ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ và phép biện chứng tự phát, quan niệm về con người hướng vào tìm cái bản nguyên đầu tiên, vì vậy thường tuyệt đối hoá một mặt, một yếu tố vật chất nào đó.

Thời phong kiến ở phương Tây khi triết học bị thần học chi phối, con người được hiểu như là sự sáng tạo của thượng đế, của đức chúa trời, con người mắc tội tổ tông truyền, phải chuộc tội, sống theo định mệnh và tin tưởng vô điều kiện vào chúa. Đến thời phục hưng và khai sáng (từ thế kỷ XV ở châu Âu), bắt đầu một thời kỳ mới trong việc khám phá bản chất con người. Quan niệm con người về thời kỳ này thường gắn với con người cá nhân (cái tôi như một chủ thể), khẳng định vai trò con người trong xã hội, hướng con người tới sự giải phóng khỏi thần học, khỏi sự áp bức và nô dịch. Do ảnh hưởng bởi phương 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp siêu hình máy móc nên nhận thức về con người thời kỳ này còn nhiêu hạn chế.

- Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về con người Triết học Mác-xít đã nêu lên một hệ thống các quan điểm phương pháp luận làm sáng tỏ khái niệm về con người. Mác và Ph Ăng- ghen đã dùng các khái niệm “con người là một sinh vật xã hội”, “là một sinh vật có tính loài”, “con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội” thể hiện tư tưỏng con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội. Các tác phẩm sau này của hai ông tiếp tục khẳng định và những quan điểm duy vật của mình: Tự nhiên là cái có trước, con người là sản phẩm của quá trình tiến hoá tự nhiên. Mác viết: “Cũng như sự tồn tại của con người là kết quả của một quá trình trước đó mà cuộc sống hữu cơ đã đi qua.

Chỉ đến một giai đoạn nào đó của quá trình này, con người mới trở thành con người” [42, tr. Vì thế, về bản chất hoạt động của con người là hoạt động tự do, có khả năng tri thức. Bằng việc tạo ra thế giới vật chất phục vụ những nhu cầu của mình đồng thời có khả năng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, con người là một sinh vật có tính loài có ý thức. Chỉ có ở con người mới có tính nhân văn, tính đồng loại.

Chỉ ở con người mới có tình cảm, biết yêu thương, cảm thông với đồng loại. Con người không chỉ sản xuất vì nhu cầu của chính mình mà bản thân sự lao động sản xuất cũng là một nhu cầu theo ý nghĩa chân chính của nó. Hơn thế, con người có nhu cầu sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Nếu tước đi những sản phẩm do con người sáng tạo ra thì cũng có nghĩa là xem người sáng tạo ra vật phẩm đó không còn là đồng loại của mình nữa.

Mác gọi đó là sự tha hoá hoạt động lao động tự do của con người. Cũng từ đó, có sự phân hoá giữa những con người, tạo ra quan hệ giữa người này với người khác thông qua lao động và sản phẩm lao động của mình. Như vậy, chính con 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người tạo ra các hoạt động xã hội và sản phẩm xã hội. Vì thế, bản chất con người chỉ có thể được hình thành, được nhận thức thông qua các quan hệ xã hội của nó.

Bản chất con người không phải là thần bí, trừu tượng, bất biến, tách rời khỏi các mối quan hệ xã hội. Theo Mác, bản chất con người là “ tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Nghĩa là tất cả các mối quan hệ xã hội vật chất - tinh thần, đều góp phần vào viêc hình thành bản chất con người, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò quyết định nhất. Quan điểm Mácxít coi lịch sử như là một quá trình tự sinh của con người, do con người thực hiện trong qúa trình thực tiễn cải tạo thế giới.

Thực tiễn không chỉ là một quá trình con người biến đổi thế giới khách quan, mà còn là quá trình biến đổi chính bản thân mình. Đưa quan điểm thực tiễn vào nghiên cứu con người, triết học Mac-xit đã chuyển vấn đề con người từ cách giải đáp tư biện sang cơ sở vững chắc của đời sống thực tiễn, từ “thế giới bên kia” hay trong bản thân con người, sang thực tiễn sản xuất và trong đời sống xã hội. - Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu vận dụng, phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người phong phú và xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh.

Con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi, toả sáng trong từng suy nghĩ, hành động của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh sử dụng từ ngữ khác nhau để nói về con người như: người, người ta, quần chúng, dân, nhân dân, đồng bào…Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người trừu tượng mà là con người 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cụ thể, hiện thực, khách quan. Đó là con người có cuộc sống riêng, có những mối quan hệ riêng gắn với gia đình, với người thân, với quê hương với tập thể đồng bào trong công đồng dân tộc và với nhân loại. Tổng kết những quan niệm, quan điểm về con người trong lịch sử, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chữ người, gốc hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.

Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người” [47, tr. Quan niệm về con người của Hồ Chí Minh vừa thể hiện tính lịch sử, vừa hướng vào những giá trị chung của con người, tự do, hạnh phúc, dân chủ để vươn tới cái chân, thiện, mỹ, đạt tới lý tưởng nhân bản, nhân đạo của con người. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh thường dùng các khái niệm: “người bản xứ”, “người nô lệ, “người cùng khổ”, “người vô sản ở thuộc địa”… để chỉ thân phận con người mất nước ở Việt Nam và tất cả những con người của các dân tộc bị chế độ thực dân đàn áp, bóc lột trên thế giới.

Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh sử dụng các khái niệm “đồng bào”, “nhân dân”.để chỉ con người Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ. Con người được đặt trong mối quan hệ gắn bó, đoàn kết, thống nhất của cộng đồng dân tộc cùng nhau kháng chiến chống lại cuộc đấu tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hồ Chí Minh dùng khái niệm “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “nông dân tập thể”, “người chủ tập thể”… để chỉ con người Việt Nam mới, con người xã hội chủ nghĩa. Nói về con người Hồ Chí Minh thường dùng các thuật ngữ: “quần chúng”, “dân’, “đồng bào” và ngược lại khi nói về “quần chúng”, “dân’, “đồng bào”… cũng tức là nói về con người.

Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh còn là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động. Con người là một hệ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống - cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố: sức khoẻ, đời sống tinh thần, tâm linh và vai trò chủ đạo của tri thức được thể hiện trong hoạt động. Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, làm điều kiện cho nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, tuy rằng vai trò của mỗi yếu tố không giống nhau. Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập (người đời không phải là thánh thần, ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác…).

Các mặt đối lập đó không đơn thuần có nguồn gốc từ xã hội, nó còn có căn nguyên từ yếu tố sinh vật của con người. Hồ Chí Minh vừa thấy được cái căn nguyên sinh vật, vừa thấy được cái căn nguyên xã hội ảnh hưởng tới hành vi và đời sống con người. Về cấu trúc con người, Hồ Chí Minh coi thể lực, sức khoẻ là mặt rất quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân và cả cộng đồng: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công” [46, tr. Con người muốn có cuộc sống vui tươi, luôn phấn đấu hứng thú trong lao động thì cần phải có sức khoẻ và thể lực tốt.

Một thể lực sung mãn, một thể chất hoàn thiện là điều kiện cần để nảy nở các năng lực về trí tuệ và hình thành một đời sống tinh thần tích cực phong phú cho mỗi cá nhân. “Khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ” [46, tr. 212]; “Và sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái” [49, tr. Từ đó Người yêu cầu việc cải tạo xã hội đồng thời và trước hết là cải tạo bản thân mỗi con người nhằm làm cho cái xấú mất đi và cái tốt ngày càng nhiều hơn trong mỗi con người.

Đây là cái nhìn khoa học, biện chứng của Hồ Chí Minh về con người và về công tác chăm lo giáo dục con người.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ