Chương 1: Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người – Một số nội dung cơ bản. Chương 2: Xây dựng con người Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời kỳ CNH, HĐH đất nước. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ CON NGƢỜI - MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN 1. Quan niệm của Hồ Chí Minh về con ngƣời 1.
Những quan điểm về con người - Quan điểm trước Chủ nghĩa Mác – Lê-nin về con người Triết học cổ đại khi quan niệm về con người, thường tập trung tìm hiểu về nguồn gốc con người, cấu tạo con người. theo hai xu hướng: đi tìm cái bản nguyên đầu tiên cấu tạo nên con người và thế giới; hoặc là định nghĩa con người trong mối quan hệ giữa linh hồn và thể xác. Do trình độ sản xuất thấp kém, con người bất lực trước các lực lượng tự nhiên nên quan niệm về con người mang nặng tính chất thần bí. Nếu chủ nghĩa duy tâm nhấn mạnh mặt tinh thần, tư tưởng của con người thì chủ nghĩa duy vật do ảnh hưởng của chủ nghĩa duy vật chất phác, ngây thơ và phép biện chứng tự phát, quan niệm về con người hướng vào tìm cái bản nguyên đầu tiên, vì vậy thường tuyệt đối hoá một mặt, một yếu tố vật chất nào đó.
Thời phong kiến ở phương Tây khi triết học bị thần học chi phối, con người được hiểu như là sự sáng tạo của thượng đế, của đức chúa trời, con người mắc tội tổ tông truyền, phải chuộc tội, sống theo định mệnh và tin tưởng vô điều kiện vào chúa. Đến thời phục hưng và khai sáng (từ thế kỷ XV ở châu Âu), bắt đầu một thời kỳ mới trong việc khám phá bản chất con người. Quan niệm con người về thời kỳ này thường gắn với con người cá nhân (cái tôi như một chủ thể), khẳng định vai trò con người trong xã hội, hướng con người tới sự giải phóng khỏi thần học, khỏi sự áp bức và nô dịch. Do ảnh hưởng bởi phương 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com pháp siêu hình máy móc nên nhận thức về con người thời kỳ này còn nhiêu hạn chế.
- Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin về con người Triết học Mác-xít đã nêu lên một hệ thống các quan điểm phương pháp luận làm sáng tỏ khái niệm về con người. Mác và Ph Ăng- ghen đã dùng các khái niệm “con người là một sinh vật xã hội”, “là một sinh vật có tính loài”, “con người bẩm sinh đã là sinh vật có tính xã hội” thể hiện tư tưỏng con người là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội. Các tác phẩm sau này của hai ông tiếp tục khẳng định và những quan điểm duy vật của mình: Tự nhiên là cái có trước, con người là sản phẩm của quá trình tiến hoá tự nhiên. Mác viết: “Cũng như sự tồn tại của con người là kết quả của một quá trình trước đó mà cuộc sống hữu cơ đã đi qua.
Chỉ đến một giai đoạn nào đó của quá trình này, con người mới trở thành con người” [42, tr. Vì thế, về bản chất hoạt động của con người là hoạt động tự do, có khả năng tri thức. Bằng việc tạo ra thế giới vật chất phục vụ những nhu cầu của mình đồng thời có khả năng cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội, con người là một sinh vật có tính loài có ý thức. Chỉ có ở con người mới có tính nhân văn, tính đồng loại.
Chỉ ở con người mới có tình cảm, biết yêu thương, cảm thông với đồng loại. Con người không chỉ sản xuất vì nhu cầu của chính mình mà bản thân sự lao động sản xuất cũng là một nhu cầu theo ý nghĩa chân chính của nó. Hơn thế, con người có nhu cầu sáng tạo theo quy luật của cái đẹp. Nếu tước đi những sản phẩm do con người sáng tạo ra thì cũng có nghĩa là xem người sáng tạo ra vật phẩm đó không còn là đồng loại của mình nữa.
Mác gọi đó là sự tha hoá hoạt động lao động tự do của con người. Cũng từ đó, có sự phân hoá giữa những con người, tạo ra quan hệ giữa người này với người khác thông qua lao động và sản phẩm lao động của mình. Như vậy, chính con 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người tạo ra các hoạt động xã hội và sản phẩm xã hội. Vì thế, bản chất con người chỉ có thể được hình thành, được nhận thức thông qua các quan hệ xã hội của nó.
Bản chất con người không phải là thần bí, trừu tượng, bất biến, tách rời khỏi các mối quan hệ xã hội. Theo Mác, bản chất con người là “ tổng hoà các mối quan hệ xã hội”. Nghĩa là tất cả các mối quan hệ xã hội vật chất - tinh thần, đều góp phần vào viêc hình thành bản chất con người, trong đó quan hệ sản xuất đóng vai trò quyết định nhất. Quan điểm Mácxít coi lịch sử như là một quá trình tự sinh của con người, do con người thực hiện trong qúa trình thực tiễn cải tạo thế giới.
Thực tiễn không chỉ là một quá trình con người biến đổi thế giới khách quan, mà còn là quá trình biến đổi chính bản thân mình. Đưa quan điểm thực tiễn vào nghiên cứu con người, triết học Mac-xit đã chuyển vấn đề con người từ cách giải đáp tư biện sang cơ sở vững chắc của đời sống thực tiễn, từ “thế giới bên kia” hay trong bản thân con người, sang thực tiễn sản xuất và trong đời sống xã hội. - Quan điểm của Hồ Chí Minh về con người Kế thừa tinh hoa tư tưởng văn hoá dân tộc và nhân loại, tiếp thu vận dụng, phát triển một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin, Hồ Chí Minh đã nâng tư tưởng về con người lên một tầm cao mới, hình thành Chủ nghĩa nhân văn Hồ Chí Minh. Tuy không có một tác phẩm nào bàn riêng về con người, nhưng tư tưởng về con người phong phú và xuyên suốt tư tưởng Hồ Chí Minh.
Con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu thiêng liêng, cao cả của sự nghiệp cách mạng mà Người theo đuổi, toả sáng trong từng suy nghĩ, hành động của Hồ Chí Minh. Hồ Chí Minh sử dụng từ ngữ khác nhau để nói về con người như: người, người ta, quần chúng, dân, nhân dân, đồng bào…Con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là con người trừu tượng mà là con người 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cụ thể, hiện thực, khách quan. Đó là con người có cuộc sống riêng, có những mối quan hệ riêng gắn với gia đình, với người thân, với quê hương với tập thể đồng bào trong công đồng dân tộc và với nhân loại. Tổng kết những quan niệm, quan điểm về con người trong lịch sử, Hồ Chí Minh cho rằng: “Chữ người, gốc hẹp là gia đình, anh em, họ hàng, bầu bạn.
Nghĩa rộng là đồng bào cả nước. Rộng nữa là cả loài người” [47, tr. Quan niệm về con người của Hồ Chí Minh vừa thể hiện tính lịch sử, vừa hướng vào những giá trị chung của con người, tự do, hạnh phúc, dân chủ để vươn tới cái chân, thiện, mỹ, đạt tới lý tưởng nhân bản, nhân đạo của con người. Trong những năm 20 của thế kỷ XX, Hồ Chí Minh thường dùng các khái niệm: “người bản xứ”, “người nô lệ, “người cùng khổ”, “người vô sản ở thuộc địa”… để chỉ thân phận con người mất nước ở Việt Nam và tất cả những con người của các dân tộc bị chế độ thực dân đàn áp, bóc lột trên thế giới.
Sau Cách mạng Tháng Tám 1945, Hồ Chí Minh sử dụng các khái niệm “đồng bào”, “nhân dân”.để chỉ con người Việt Nam thoát khỏi ách nô lệ. Con người được đặt trong mối quan hệ gắn bó, đoàn kết, thống nhất của cộng đồng dân tộc cùng nhau kháng chiến chống lại cuộc đấu tranh xâm lược lần thứ hai của thực dân Pháp. Trong xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, Hồ Chí Minh dùng khái niệm “lao động chân tay”, “lao động trí óc”, “nông dân tập thể”, “người chủ tập thể”… để chỉ con người Việt Nam mới, con người xã hội chủ nghĩa. Nói về con người Hồ Chí Minh thường dùng các thuật ngữ: “quần chúng”, “dân’, “đồng bào” và ngược lại khi nói về “quần chúng”, “dân’, “đồng bào”… cũng tức là nói về con người.
Con người trong quan niệm của Hồ Chí Minh còn là một chỉnh thể thống nhất về thể lực, tâm lực, trí lực và sự hoạt động. Con người là một hệ 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống - cấu trúc bao gồm nhiều yếu tố: sức khoẻ, đời sống tinh thần, tâm linh và vai trò chủ đạo của tri thức được thể hiện trong hoạt động. Các yếu tố này quan hệ chặt chẽ với nhau, làm điều kiện cho nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, tuy rằng vai trò của mỗi yếu tố không giống nhau. Hồ Chí Minh xem xét con người trong sự thống nhất của hai mặt đối lập (người đời không phải là thánh thần, ai cũng có chỗ hay chỗ dở, ai cũng có tính tốt tính xấu, có thiện có ác…).
Các mặt đối lập đó không đơn thuần có nguồn gốc từ xã hội, nó còn có căn nguyên từ yếu tố sinh vật của con người. Hồ Chí Minh vừa thấy được cái căn nguyên sinh vật, vừa thấy được cái căn nguyên xã hội ảnh hưởng tới hành vi và đời sống con người. Về cấu trúc con người, Hồ Chí Minh coi thể lực, sức khoẻ là mặt rất quan trọng trong đời sống mỗi cá nhân và cả cộng đồng: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khoẻ mới làm thành công” [46, tr. Con người muốn có cuộc sống vui tươi, luôn phấn đấu hứng thú trong lao động thì cần phải có sức khoẻ và thể lực tốt.
Một thể lực sung mãn, một thể chất hoàn thiện là điều kiện cần để nảy nở các năng lực về trí tuệ và hình thành một đời sống tinh thần tích cực phong phú cho mỗi cá nhân. “Khí huyết lưu thông, tinh thần đầy đủ, như vậy là sức khoẻ” [46, tr. 212]; “Và sức khoẻ của cán bộ và nhân dân được đảm bảo thì tinh thần càng hăng hái” [49, tr. Từ đó Người yêu cầu việc cải tạo xã hội đồng thời và trước hết là cải tạo bản thân mỗi con người nhằm làm cho cái xấú mất đi và cái tốt ngày càng nhiều hơn trong mỗi con người.
Đây là cái nhìn khoa học, biện chứng của Hồ Chí Minh về con người và về công tác chăm lo giáo dục con người.