CHƯƠNG 1 TU TUONG HO CHi MINH VE DAO D 1. NGUÒN GÓC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HÒ CHÍ MINH 1. Tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất để dựng nước và giữ nước. Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đều đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn.
Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng văn hóa - tỉnh thần Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, dao lý làm người, niềm tự hào và là nhân tổ hàng đầu trong bảng giá trị tinh than của con người Việt Nam. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kinh của tư. tưởng yêu nước đó.
Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một dân tộc có bề dày chống ngoại xâm hàng nghìn năm. Thực tiễn ủa sự nghiệp dựng nước và giữ nước đã làm nảy sinh một cách tự nhiên truyền thống yêu nước và trở thành một “hằng số” bat biến trong quá trình tồn tại vả phát triển của người Việt Nam. Chủ tịch Hỗ Chi Minh da viết: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta.
Từ xưa đến nay, mỗi khi Tô quốc bị xâm lăng, thì tỉnh thần ấy lại sôi nôi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nõ lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhắn chim tat ca lũ bán nước và lũ cướp nước [44, tr.38] I Thông qua con đường học hành ở trường về lich sử và văn học Việt Nam, thông qua khí phách và sự giáo dục trực tiếp của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ của Người, đặc biệt là được chứng kiến phong trào đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ, dẫn dẫn, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cứ thấm ảo trong tâm trí Hồ Chí Minh. Thời niên thiếu Hồ Chí Minh là thời kỳ dân tộc Việt Nam có nhiều đau thương. Hàng loạt phong trào đấu tranh bị dìm trong biển máu. Nhiều xu hướng cứu nước bị thất bai, ca dân tộc lâm vào sự bề tắc, khủng hoảng về con đường cứu nước, khát vọng cháy bóng của nhân dân ta là độc lập vả tự do dân chủ đang chơi vơi giữa bầu trời phủ đầy bóng đen của chiến tranh xâm lược.
Môi trường dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và khát vọng của nhân dân là nền tảng vững chắc đầu tiên tạo đà cho Hồ Chí Minh vượt xa hơn hẳn những nhà yêu nước đương thời để tìm thấy con đường giải phóng đúng đắn cho phong trào cách mạng nước ta. Đó cũng chính là cơ sở tư tưởng đã dẫn dắt Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hỗ Chí Minh viết “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lénin, tin theo Quốc tế thứ ba” [49, tr.563] Thứ hai, là tính thẳn nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” trong hoạn nạn, khó khăn. Truyền thống này hình thành cùng một lúc với sự hình thành đân tộc, từ hoản cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm.
Người Việt Nam quen sống gắn bó với nhau trong tỉnh làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau. Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống nảy vẫn còn rất bền vững. Vi vậy, Hồ Chí Minh đã chú ÿ kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhắn mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lỏng, đồng minh). 12 Người thường nhắn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa.
Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thảnh tình nghĩa đồng bảo, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin - đỉnh cao của trí tuệ nhân loại cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống đó. Người nhắn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách ma song không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được.
Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phần đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa lả lẽ phải, ngay thẳng. Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đẩu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa dé phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn.
Bat ky ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù. Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tỉnh thần cộng đồng, lỗi sống thành thực, thân ái, những thuần phong. mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chồng thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, Người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước.
Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cẳn, kiệm, liêm, chính. Hỗ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cở bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp. Người nhắc đến tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”, “Đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ đề đồng bảo xung quanh đói rét, thì dù giàu cũng không hưởng được.
Người nói rằng cách cư xử đối với đồng bảo thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ. Nhiều lần, Người nhắn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển 13 một trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bải trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tỉnh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiểu với dân.
Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu như tính lười biếng, tham lam, sửa đổi các phiền phức như cúng bái, cưới hỏi quá xa xi. Thứ ba, dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu đời. Trong “muôn nguy, ngản khó”, người lao động vẫn động viên nhau “chớ: thấy sóng cả mả ngã tay chèo”. Tỉnh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thẳng của chân lý, chính nghĩa, dù trước mắt vẫn còn đầy gian truân, khổ ải phải chịu đựng, vượt qua.
Hỗ Chí Minh chính là hiện thân của sự lạc quan đó. Tỉnh thần lạc quan đó sớm đã bộc lộ ngay từ cái ngày chàng thanh niên Nguyễn Tắt Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Những ngày tháng Người bị giam cầm tại Quảng Tây (Trung Quốc), tỉnh thần lạc quan vẫn luôn cháy sáng đó đã giúp Người viết nên tập thơ bất hủ “Ngục trung nhật ký”. Tập thơ đó chính là sự tố cáo, sự.
thách thức đối với bọn Tưởng Giới Thạch, và cũng chính là niềm tin vào một ngày mai tươi sáng của dân tộc. Người vững tin vào một ngày mai tươi sáng, bởi Người nắm bắt được quy luật của tự nhiên, của xã hội. Trong bài “Trời hứng”, Người viết: “Su vat van xoay da dinh sin, Hết mưa là nắng hững lên thôi; Người cùng vạn vật đều phơi phới, Hất khô là vui vốn lẽ đời” [40, tr450] 'Và cho đến tận cái ngày định mệnh ấy, cái ngày mà triệu triệu đồng bảo. 'Việt Nam không bao giờ được tận mắt thấy nụ cười của Bác, thì Bác vẫn để 14 lại tỉnh thần lạc quan ấy cho toàn dân tộc.
Người tin vào sự tất thắng của nhân dân ta, tin rằng cuộc chống Mỹ, cứu nước dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thẳng lợi hoản toàn. Và Người khăng định: “Dù khó khăn, gian khô đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng. Để quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất.
Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” [52, tr. Thứ tư, dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần củ, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đầu; ham học hỏi vả không ngừng mở rộng. cửa đón nhận tỉnh hoa văn hóa của nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của Phương. Đông đến tư tưởng - văn hóa hiện đại phương Tây.
Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, ở giữa đầu mỗi của sự giao lưu văn hóa Bắc - Nam và Đông - Tây, người Việt Nam từ xưa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bai ngoại cực đoan. Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thủ, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động vả trọn vẹn của truyền thống đó. Những giá trị truyền thông của đân tộc được hình thành qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước là cơ sở quan trọng để hình thành nên tư tưởng.
Hỗ Chí Minh về đạo đức. Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng cho sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam. Tỉnh hoa văn hoá nhân loại ~ Từ tưởng và văn hỏa phương Đông Văn hóa phương Đông nổi bật lên 2 trung tâm văn hóa lớn là Trung Quốc và Ân Độ. Hồ Chí Minh là người có vốn hiểu biết rắt uyên thâm về văn hóa phương Đông.
Với tư duy và tầm nhìn xa rộng của mình, Người đã nhận thấy những hạn chế, tiêu cực trong các học thuyết triết học hoặc trong tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn 15 Trung Sơn. Đồng thời, Người cũng biết chắt lọc lấy những gì tỉnh túy nhất trong các luồng tư tưởng trên. “Trước hết nói về Nho giáo. Sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho.