Luận văn thạc sĩ vận dụng tư tưởng hồ chí minh đề đạo đức trong việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận hải châu thành phố đà nẵng hiện nay

Luận văn về vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, Đà Nẵng. Nghiên cứu chuyên sâu triết học.

Chuyên ngành

Triết học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

126
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh về Đạo Đức

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là nền tảng cho người cách mạng, nguồn gốc của mọi thành công. Đạo đức như gốc của cây, nguồn của sông, là yếu tố quyết định sự thành bại của sự nghiệp cách mạng. Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng, nếu không thì không thể lãnh đạo được nhân dân. Sự nghiệp giành độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội là một con đường đầy khó khăn và thử thách, đòi hỏi sự phấn đấu không ngừng của mỗi người và toàn xã hội. Chăm lo gốc, nguồn, nền tảng phải là công việc thường xuyên của toàn Đảng, toàn dân, của mỗi gia đình và mỗi người. Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh luôn là tấm gương mẫu mực trong việc thực hành đạo đức cách mạng. Người xem xét đạo đức một cách toàn diện, trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người và đặc biệt quan tâm đến đạo đức của cán bộ công chức. Người dạy rằng cán bộ công chức phải tránh chủ nghĩa cá nhân hẹp hòi và các tệ nạn như tham ô, lãng phí, tham nhũng, háo danh, kiêu ngạo, và xa rời quần chúng. Người yêu cầu mỗi cán bộ công chức phải kiên quyết đấu tranh chống lại mọi biểu hiện tiêu cực, đồng thời thực hiện tự phê bình và phê bình để khắc phục khuyết điểm, ngày càng xứng đáng với sự tin yêu của nhân dân và làm cho Đảng ngày càng vững mạnh.

1.1. Giá Trị Tư Tưởng Hồ Chí Minh Về Đạo Đức Công Vụ

Trong sự nghiệp cách mạng, tư tưởng đạo đức của Hồ Chí Minh có ảnh hưởng sâu rộng đến đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đội ngũ cán bộ công chức đã có những trưởng thành vượt bậc và đóng góp quan trọng vào sự phát triển của đất nước. Tuyệt đại đa số cán bộ công chức phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước; bản lĩnh vững vàng, kiên định con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nhân dân đã lựa chọn. Những người này là những tấm gương mẫu mực trong việc thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, đồng thời không ngừng học tập, rèn luyện, nâng cao trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ nhằm nâng cao hiệu quả công tác và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Chính những thành công này đã góp phần quan trọng vào việc củng cố và nâng cao đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ công chức, thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội.

1.2. Bối Cảnh Vận Dụng Tại Quận Hải Châu Đà Nẵng

Hải Châu là quận trung tâm của thành phố Đà Nẵng, nơi có bề dày truyền thống văn hóa và lịch sử. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, người dân Hải Châu đã hình thành nên những phẩm chất cao đẹp như yêu nước, thương người, giữ vững đoàn kết, trung dũng, kiên cường và bất khuất trước mọi gian nan, thử thách.Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “cán bộ là gốc của mọi công việc, công tác huấn luyện cán bộ là công việc gốc của Đảng”, Đảng bộ và chính quyền quận Hải Châu luôn chú trọng đầu tư vào công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ công chức về tư tưởng, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực công tác. Đội ngũ cán bộ công chức không ngừng trưởng thành cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu của sự nghiệp đổi mới.

II. Thách Thức Đạo Đức Thực Trạng Của Cán Bộ Hải Châu

Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đã đạt được, trong tư tưởng và đạo đức của một bộ phận cán bộ công chức quận Hải Châu vẫn còn những hạn chế cần được khắc phục, sửa chữa, như ý thức tự rèn luyện chưa cao, tinh thần phục vụ nhân dân chưa tốt, vẫn còn tình trạng quan liêu, hách dịch, gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân. Do đó, việc tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu hiện nay là hết sức cần thiết và cấp bách, nhằm góp phần củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước nói chung và đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu nói riêng. Hiện trạng này cũng được đề cập trong các văn kiện của Đảng, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X đã chỉ ra sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức, cùng với đó là tình trạng tham nhũng, lãng phí, sách nhiễu dân diễn ra nghiêm trọng, kéo dài nhưng chưa được ngăn chặn.

2.1. Biểu Hiện Suy Thoái Đạo Đức Cán Bộ Đảng Viên

Các văn kiện của Đảng đã chỉ rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức, thậm chí là đảng viên lãnh đạo, quản lý. Tình trạng này được biểu hiện thông qua sự phai nhạt lý tưởng, sa vào chủ nghĩa cá nhân thực dụng, chạy theo danh lợi, cục bộ, tham nhũng, lãng phí. Nghị quyết Trung ương khóa XI cũng khẳng định tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ công chức chưa được đẩy lùi, thậm chí còn diễn biến phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng. Suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống dẫn đến những diễn biến tiêu cực, thậm chí là “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, đe dọa sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.

2.2. Hậu Quả Của Suy Thoái Đạo Đức Với Xã Hội

Thực trạng này không chỉ làm giảm sút vai trò lãnh đạo của Đảng mà còn làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ. Đó là thực trạng chung của cả nước, và ở mỗi địa phương, đơn vị, thực trạng này có những biểu hiện và mức độ nghiêm trọng khác nhau. Tại quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội, song vẫn còn tồn tại những hạn chế trong đạo đức công vụ của một bộ phận cán bộ công chức.

III. Phương Pháp Vận Dụng Xây Dựng Đạo Đức Cán Bộ Hải Châu

Để khắc phục những hạn chế trên, cần có những giải pháp đồng bộ và hiệu quả để xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu. Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một trong những giải pháp quan trọng hàng đầu. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức là một hệ thống các quan điểm, nguyên tắc, chuẩn mực về đạo đức cách mạng, được Người đúc kết từ thực tiễn đấu tranh cách mạng của dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức có giá trị to lớn trong việc định hướng, giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ công chức, giúp họ trở thành những người có phẩm chất đạo đức tốt đẹp, tận tụy với công việc, hết lòng phục vụ nhân dân.

3.1. Nâng Cao Nhận Thức Về Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh

Nâng cao nhận thức cho cán bộ công chức về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh thông qua các hoạt động học tập, quán triệt, tuyên truyền. Cần chú trọng đến việc đổi mới nội dung, phương pháp học tập, quán triệt, đảm bảo tính thiết thực, hiệu quả. Tổ chức các buổi nói chuyện, hội thảo, tọa đàm về tư tưởng đạo đức Hồ Chí Minh, đồng thời khuyến khích cán bộ công chức tự học tập, nghiên cứu để nâng cao nhận thức. Xây dựng môi trường văn hóa công sở lành mạnh, tạo điều kiện để cán bộ công chức rèn luyện, tu dưỡng đạo đức.

3.2. Gương Mẫu Thực Hành Đạo Đức Phong Cách Hồ Chí Minh

Xây dựng và thực hiện các chuẩn mực đạo đức cụ thể, phù hợp với đặc điểm của từng ngành, nghề, lĩnh vực công tác. Các chuẩn mực đạo đức cần được thể hiện rõ ràng, dễ hiểu, dễ thực hiện, đồng thời phải được công khai, minh bạch để cán bộ công chức và nhân dân cùng giám sát. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện đạo đức công vụ của cán bộ công chức. Xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm đạo đức công vụ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Phát huy vai trò của nhân dân trong việc giám sát, đánh giá đạo đức của cán bộ công chức.

IV. Giải Pháp Cụ Thể Rèn Luyện Đạo Đức Công Chức Quận Hải Châu

Cần chú trọng đến việc bồi dưỡng phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng cho đội ngũ cán bộ công chức, giúp họ có bản lĩnh vững vàng, kiên định mục tiêu lý tưởng của Đảng, có ý thức trách nhiệm cao đối với công việc và nhân dân. Phát huy vai trò của người đứng đầu trong việc xây dựng đạo đức cho cán bộ công chức. Người đứng đầu phải là tấm gương sáng về đạo đức, lối sống, là trung tâm đoàn kết, là người truyền lửa, tạo động lực cho cán bộ công chức phấn đấu, rèn luyện. Tạo điều kiện để cán bộ công chức tham gia các hoạt động xã hội, từ thiện, giúp đỡ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Qua đó, giúp họ hiểu rõ hơn về cuộc sống của nhân dân, nâng cao tinh thần trách nhiệm, yêu thương, sẻ chia.

4.1. Đổi Mới Nội Dung Phương Pháp Giáo Dục Đạo Đức

Đổi mới nội dung, phương pháp giáo dục đạo đức cho cán bộ công chức. Cần kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, giữa giáo dục đạo đức với giáo dục pháp luật, giữa giáo dục trong nhà trường với giáo dục trong thực tiễn công tác. Sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực, khuyến khích cán bộ công chức tự giác học tập, rèn luyện. Tăng cường công tác khen thưởng, biểu dương các cán bộ công chức có thành tích xuất sắc trong công tác, có phẩm chất đạo đức tốt đẹp. Đồng thời, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm đạo đức công vụ, tạo tính răn đe.

4.2. Xây Dựng Cơ Chế Kiểm Tra Giám Sát Hiệu Quả

Xây dựng cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả việc thực hiện đạo đức công vụ của cán bộ công chức. Cơ chế này cần được thực hiện thường xuyên, liên tục, công khai, minh bạch, với sự tham gia của các tổ chức đoàn thể và nhân dân. Tăng cường vai trò của các cơ quan thanh tra, kiểm tra trong việc phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm đạo đức công vụ. Bảo vệ người tố cáo các hành vi vi phạm đạo đức công vụ.

V. Ứng Dụng Thực Tiễn Kết Quả Nghiên Cứu Tại Quận Hải Châu

Luận văn đã đi sâu nghiên cứu về thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng, đồng thời đề xuất một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nhằm xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức này trong giai đoạn hiện nay. Luận văn đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; phân tích thực trạng đạo đức của đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng; và đề xuất một số giải pháp vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức nhằm xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.

5.1. Khảo Sát Thực Tế Về Đạo Đức Của Cán Bộ Công Chức

Luận văn đã tiến hành khảo sát thực tế về đạo đức của cán bộ công chức tại các cơ quan, đơn vị thuộc quận Hải Châu. Kết quả khảo sát cho thấy, phần lớn cán bộ công chức đều có phẩm chất đạo đức tốt, tận tụy với công việc, hết lòng phục vụ nhân dân. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận cán bộ công chức có những biểu hiện tiêu cực như quan liêu, hách dịch, tham nhũng, lãng phí...

5.2. Đề Xuất Mô Hình Vận Dụng Tư Tưởng Hồ Chí Minh

Dựa trên kết quả nghiên cứu, luận văn đã đề xuất một mô hình vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu. Mô hình này bao gồm các yếu tố: nâng cao nhận thức, xây dựng chuẩn mực, kiểm tra giám sát, và khen thưởng kỷ luật.

VI. Kết Luận Tăng Cường Vận Dụng Tư Tưởng Đạo Đức Hồ Chí Minh

Trong bối cảnh hiện nay, khi tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, đặt ra những thách thức lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, việc tăng cường vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ công chức là một yêu cầu cấp thiết. Đây là một nhiệm vụ quan trọng, đòi hỏi sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự nỗ lực của mỗi cán bộ công chức và sự ủng hộ của toàn xã hội. Tin tưởng rằng, với sự quan tâm lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo sát sao của chính quyền và sự đồng lòng của nhân dân, quận Hải Châu sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu to lớn hơn nữa trong sự nghiệp xây dựng và phát triển.

6.1. Bài Học Kinh Nghiệm Từ Thực Tiễn Quận Hải Châu

Quận Hải Châu có nhiều kinh nghiệm quý báu trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ công chức vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, chuyên môn, nghiệp vụ. Các kinh nghiệm này cần được tổng kết, đánh giá để nhân rộng ra các địa phương khác.

6.2. Triển Vọng Và Hướng Đi Trong Tương Lai

Việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức trong xây dựng đội ngũ cán bộ công chức quận Hải Châu sẽ tiếp tục được đẩy mạnh trong thời gian tới, góp phần xây dựng một quận Hải Châu ngày càng văn minh, giàu đẹp.

25/04/2025
Luận văn thạc sĩ vận dụng tư tưởng hồ chí minh đề đạo đức trong việc xây dựng đạo đức cho đội ngũ cán bộ công chức quận hải châu thành phố đà nẵng hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TU TUONG HO CHi MINH VE DAO D 1. NGUÒN GÓC TƯ TƯỞNG ĐẠO ĐỨC HÒ CHÍ MINH 1. Tư tưởng và văn hóa truyền thống Việt Nam Trước hết, đó là chủ nghĩa yêu nước và ý chí đấu tranh bất khuất để dựng nước và giữ nước. Từ văn hóa dân gian đến văn hóa bác học, từ nhân vật truyền thuyết đến các tên tuổi sáng ngời trong lịch sử như Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đều đã phản ánh chân lý đó một cách hùng hồn.

Chủ nghĩa yêu nước là dòng chủ lưu chảy xuyên suốt trường kỳ lịch sử Việt Nam, là chuẩn mực cao nhất, đứng đầu bảng văn hóa - tỉnh thần Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước đã trở thành động lực, sức mạnh truyền thống, dao lý làm người, niềm tự hào và là nhân tổ hàng đầu trong bảng giá trị tinh than của con người Việt Nam. Mọi học thuyết đạo đức, tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào Việt Nam đều được tiếp nhận khúc xạ qua lăng kinh của tư. tưởng yêu nước đó.

Hồ Chí Minh sinh ra và lớn lên ở một dân tộc có bề dày chống ngoại xâm hàng nghìn năm. Thực tiễn ủa sự nghiệp dựng nước và giữ nước đã làm nảy sinh một cách tự nhiên truyền thống yêu nước và trở thành một “hằng số” bat biến trong quá trình tồn tại vả phát triển của người Việt Nam. Chủ tịch Hỗ Chi Minh da viết: Dân ta có một lòng nồng nàn yêu nước. Đó là một truyền thống quý báu của ta.

Từ xưa đến nay, mỗi khi Tô quốc bị xâm lăng, thì tỉnh thần ấy lại sôi nôi, nó kết thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nõ lướt qua mọi sự nguy hiểm, khó khăn, nó nhắn chim tat ca lũ bán nước và lũ cướp nước [44, tr.38] I Thông qua con đường học hành ở trường về lich sử và văn học Việt Nam, thông qua khí phách và sự giáo dục trực tiếp của cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - thân phụ của Người, đặc biệt là được chứng kiến phong trào đấu tranh của nhân dân xứ Nghệ, dẫn dẫn, chủ nghĩa yêu nước Việt Nam cứ thấm ảo trong tâm trí Hồ Chí Minh. Thời niên thiếu Hồ Chí Minh là thời kỳ dân tộc Việt Nam có nhiều đau thương. Hàng loạt phong trào đấu tranh bị dìm trong biển máu. Nhiều xu hướng cứu nước bị thất bai, ca dân tộc lâm vào sự bề tắc, khủng hoảng về con đường cứu nước, khát vọng cháy bóng của nhân dân ta là độc lập vả tự do dân chủ đang chơi vơi giữa bầu trời phủ đầy bóng đen của chiến tranh xâm lược.

Môi trường dân tộc mà hạt nhân là chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và khát vọng của nhân dân là nền tảng vững chắc đầu tiên tạo đà cho Hồ Chí Minh vượt xa hơn hẳn những nhà yêu nước đương thời để tìm thấy con đường giải phóng đúng đắn cho phong trào cách mạng nước ta. Đó cũng chính là cơ sở tư tưởng đã dẫn dắt Người đến với chủ nghĩa Mác - Lênin. Hỗ Chí Minh viết “Lúc đầu, chính là chủ nghĩa yêu nước, chứ chưa phải chủ nghĩa cộng sản đã đưa tôi tin theo Lénin, tin theo Quốc tế thứ ba” [49, tr.563] Thứ hai, là tính thẳn nhân nghĩa, truyền thống đoàn kết, tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” trong hoạn nạn, khó khăn. Truyền thống này hình thành cùng một lúc với sự hình thành đân tộc, từ hoản cảnh và nhu cầu đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên và với giặc ngoại xâm.

Người Việt Nam quen sống gắn bó với nhau trong tỉnh làng nghĩa xóm, tắt lửa tối đèn có nhau. Bước sang thế kỷ XX, mặc dù xã hội Việt Nam đã có sự phân hóa về giai cấp, truyền thống nảy vẫn còn rất bền vững. Vi vậy, Hồ Chí Minh đã chú ÿ kế thừa, phát huy sức mạnh của truyền thống nhân nghĩa, nhắn mạnh bốn chữ “đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lỏng, đồng minh). 12 Người thường nhắn mạnh, nhân dân ta đã từ lâu sống với nhau có tình có nghĩa.

Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn, trở thảnh tình nghĩa đồng bảo, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà. Ngay cả khi tiếp thu lý luận Mác-Lênin - đỉnh cao của trí tuệ nhân loại cũng phải trên nền tảng của giá trị truyền thống đó. Người nhắn mạnh: Hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin là phải sống với nhau có tình, có nghĩa. Nếu thuộc bao nhiêu kinh sách ma song không có tình nghĩa thì sao gọi là hiểu chủ nghĩa Mác-Lênin được.

Tư tưởng đại nhân, đại nghĩa ở Hồ Chí Minh là phần đấu vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của con người, là cứu nước, độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội, tạo mọi điều kiện cho con người phát triển. Trong văn hóa đạo đức Việt Nam, chữ “Nghĩa” có ý nghĩa lả lẽ phải, ngay thẳng. Nguyễn Trãi đã từng nói: Phàm mưu việc lớn phải lấy nhân nghĩa làm gốc, nên “công to phải lấy nhân nghĩa làm đẩu”, Hồ Chí Minh lấy chữ nghĩa dé phân rõ bạn thù. Ai làm điều gì có lợi cho nhân dân, cho Tổ quốc đều là bạn.

Bat ky ai làm điều gì có hại cho nhân dân và Tổ quốc đều là kẻ thù. Trong những giá trị truyền thống cao đẹp của dân tộc, Hồ Chí Minh đã kế thừa tỉnh thần cộng đồng, lỗi sống thành thực, thân ái, những thuần phong. mỹ tục, trở thành những yếu tố đậm nét trong tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngay từ năm 1947, trong khi cuộc chiến chồng thực dân Pháp đang diễn ra quyết liệt, Người đã nói đến đời sống mới của một người, một nhà, một làng và khắp cả nước.

Xoay quanh hạt nhân của đời sống mới là cẳn, kiệm, liêm, chính. Hỗ Chí Minh đã nói đến thuần phong mỹ tục, không có cở bạc, hút xách, bợm bài, trộm cắp. Người nhắc đến tục ngữ “Lá lành đùm lá rách”, “Đói cho sạch rách cho thơm”. Và, nếu một mình no ấm mà nỡ đề đồng bảo xung quanh đói rét, thì dù giàu cũng không hưởng được.

Người nói rằng cách cư xử đối với đồng bảo thì nên thành thực, thân ái, sẵn lòng giúp đỡ. Nhiều lần, Người nhắn mạnh đến việc xây dựng và phát triển thuần phong mỹ tục, tức là phát triển 13 một trong những giá trị truyền thống. Mặt khác, khi trân trọng giữ gìn thuần phong mỹ tục, Hồ Chí Minh luôn gắn với việc phê phán, bải trừ đồi phong, bại tục. Người đã nói đến việc “khôi phục vốn cũ” với một tỉnh thần trân trọng các giá trị của người xưa để lại như: tương thân tương ái, tận trung với nước, tận hiểu với dân.

Song, Người yêu cầu xóa bỏ cái xấu như tính lười biếng, tham lam, sửa đổi các phiền phức như cúng bái, cưới hỏi quá xa xi. Thứ ba, dân tộc Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lạc quan, yêu đời. Trong “muôn nguy, ngản khó”, người lao động vẫn động viên nhau “chớ: thấy sóng cả mả ngã tay chèo”. Tỉnh thần lạc quan đó có cơ sở từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thẳng của chân lý, chính nghĩa, dù trước mắt vẫn còn đầy gian truân, khổ ải phải chịu đựng, vượt qua.

Hỗ Chí Minh chính là hiện thân của sự lạc quan đó. Tỉnh thần lạc quan đó sớm đã bộc lộ ngay từ cái ngày chàng thanh niên Nguyễn Tắt Thành quyết chí ra đi tìm đường cứu nước. Những ngày tháng Người bị giam cầm tại Quảng Tây (Trung Quốc), tỉnh thần lạc quan vẫn luôn cháy sáng đó đã giúp Người viết nên tập thơ bất hủ “Ngục trung nhật ký”. Tập thơ đó chính là sự tố cáo, sự.

thách thức đối với bọn Tưởng Giới Thạch, và cũng chính là niềm tin vào một ngày mai tươi sáng của dân tộc. Người vững tin vào một ngày mai tươi sáng, bởi Người nắm bắt được quy luật của tự nhiên, của xã hội. Trong bài “Trời hứng”, Người viết: “Su vat van xoay da dinh sin, Hết mưa là nắng hững lên thôi; Người cùng vạn vật đều phơi phới, Hất khô là vui vốn lẽ đời” [40, tr450] 'Và cho đến tận cái ngày định mệnh ấy, cái ngày mà triệu triệu đồng bảo. 'Việt Nam không bao giờ được tận mắt thấy nụ cười của Bác, thì Bác vẫn để 14 lại tỉnh thần lạc quan ấy cho toàn dân tộc.

Người tin vào sự tất thắng của nhân dân ta, tin rằng cuộc chống Mỹ, cứu nước dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thẳng lợi hoản toàn. Và Người khăng định: “Dù khó khăn, gian khô đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng. Để quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất.

Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” [52, tr. Thứ tư, dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần củ, dũng cảm, thông minh, sáng tạo trong sản xuất và chiến đầu; ham học hỏi vả không ngừng mở rộng. cửa đón nhận tỉnh hoa văn hóa của nhân loại, từ Nho, Phật, Lão của Phương. Đông đến tư tưởng - văn hóa hiện đại phương Tây.

Nhờ vị trí địa lý thuận lợi, ở giữa đầu mỗi của sự giao lưu văn hóa Bắc - Nam và Đông - Tây, người Việt Nam từ xưa đã rất xa lạ với đầu óc hẹp hòi, thủ cựu, thói bai ngoại cực đoan. Trên cơ sở giữ vững bản sắc của dân tộc, nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thủ, cải biến những cái hay, cái tốt, cái đẹp của người thành những giá trị riêng của mình. Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động vả trọn vẹn của truyền thống đó. Những giá trị truyền thông của đân tộc được hình thành qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước là cơ sở quan trọng để hình thành nên tư tưởng.

Hỗ Chí Minh về đạo đức. Hồ Chí Minh là người đã đặt nền móng cho sự nghiệp xây dựng nền đạo đức mới ở Việt Nam. Tỉnh hoa văn hoá nhân loại ~ Từ tưởng và văn hỏa phương Đông Văn hóa phương Đông nổi bật lên 2 trung tâm văn hóa lớn là Trung Quốc và Ân Độ. Hồ Chí Minh là người có vốn hiểu biết rắt uyên thâm về văn hóa phương Đông.

Với tư duy và tầm nhìn xa rộng của mình, Người đã nhận thấy những hạn chế, tiêu cực trong các học thuyết triết học hoặc trong tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo, trong chủ nghĩa Tam dân của Tôn 15 Trung Sơn. Đồng thời, Người cũng biết chắt lọc lấy những gì tỉnh túy nhất trong các luồng tư tưởng trên. “Trước hết nói về Nho giáo. Sinh ra trong gia đình có truyền thống Nho.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ