Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc vận dụng lý thuyết lập luận trong dạy học văn bản nghị luận. Chương 2: Vận dụng lập luận và cách khai thác lập luận trong dạy học văn bản nghị luận ở Trung học phổ thông. Chương 3: Thiết kế giáo án và thực nghiệm. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA VIỆC VẬN DỤNG LÝ THUYẾT LẬP LUẬN TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN NGHỊ LUẬN 1.
Một số vấn đề về lý thuyết lập luận 1. Khái niệm của lý thuyết lập luận Trước đây, lập luận (argumentation) được nghiên cứu trong tu từ học và trong lôgic học. Hai nhà ngôn ngữ học Pháp: Oswald Ducrot và Jean Claude Anscombre đã đắc biệt quan tâm tới bản chất ngữ dụng học của lập luận. Ở trên, chúng ta đã nói tới các phát ngôn miêu tả với nội dung phản ánh một hiện thực, sự kiện bên ngoaid ngôn ngữ bằng lời nói.
Các phát ngôn này là sản phẩm của hành vi khảo nghiệm và nội dung của chúng được đánh giá theo tiêu chuẩn lôgic đúng, sai. Hayakawa có nhận xét: trong giao tiếp thông thường – không kể trong các văn bản khoa học – các phát ngôn miêu tả kiểu như: - Nhà của ông Nhuận có hai tầng. - Con mèo này màu đen. - Trời nhiều mây.
Có số lượng thấp. Trong giao tiếp thông thường, ít khi chúng ta miêu tả để miêu tả. Thường thường, chúng ta miêu tả một cái gì đấy là để hướng người nghe tới một cái gì đấy nằm ngoài sự vật, hiện tượng, sự kiện được miêu tả. Cái mà người nói hướng người nghe tới qua thông tin miêu tả có thể là một thái độ, một tình cảm, một sự đánh giá, một nhận định hay một hành động nào đó cần phải thực hiện.
Nói vắn tắt, cái mà thông tin miêu tả hướng tới là một kết luận nào đó rút từ thông tin miêu tả đó. Lập luận là đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các phát ngôn (nói đúng hơn là giữa nội dung các phát ngôn) như sau: p→r p là lí lẽ, r là kết luận (p, r có thể được diễn đạt bằng các phát ngôn u1, u2, v.v…) Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là luận cứ (argument). Vậy có thể nói quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ (một hoặc một số) với kết luận.
Luận cứ có thể là thông tin miêu tả hay là một định luật, một nguyên lí xử thế nào đấy. Ví dụ: - Con mèo này màu đen (p) (nên) rất dễ sợ (r) p là một thông tin miêu tả. - Mệt mỏi thì phải nghỉ ngơi (p) mà cậu thì đã làm việc liền 8 tiếng rồi (q) → cậu phải nghe nhạc một lát (r). Ở ví dụ này, chúng ta có hai luận cứ, p là một nguyên lí sinh hoạt và q là nhận xét về một trạng thái tâm sinh lí.
Đặc trưng của lý thuyết lập luận Luận cứ và kết luận là những thành phần trong lập luận. Thuật ngữ lập luận được hiểu theo hai nghĩa: Thứ nhất, nó chỉ sự lập luận, tức hành vi lập luận. Thứ hai, nó chỉ sản phẩm của hành vi lập luận, tức toàn bộ cấu trúc của lập luận, cả về nội dung, cả về hình thức. Thuật ngữ quan hệ lập luận dùng để chỉ quan hệ giữa các thành phần của một lập luận với nhau.
Có quan hệ lập luận giữa luận cứ với luận cứ và có quan hệ lập luận giữa luận cứ và kết luận. Lại còn quan hệ lập luận giữa hai hay nhiều lập luận với nhau trong một phát ngôn, hay trong một diễn ngôn. Chúng ta đã biết có những diễn ngôn độc thoại (monolôgic, monologique) tức diễn ngôn do một người nói ra, người tiếp nhận không được đáp lại. Diễn ngôn độc thoại phân biệt với diễn ngôn đơn thoại (monologal, monologal) ở chỗ diễn ngôn đơn thoại do một người nói ra (hoặc 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com viết ra) trong một cuộc hội thoại, người tiếp nhận có thể đáp lại.
Lại có diễn ngôn song thoại (dialogal, dialogal) tức diễn ngôn của những người đối thoại nói qua lại với nhau trong một cuộc hội thoại. Diễn ngôn độc thoại có thể ở dạng nói hoặc viết. Những thí dụ về lập luận vừa dẫn có thể làm chúng ta hiểu lầm rằng lập luận chỉ xuất hiện trong một diễn ngôn đơn thoại, trong một phát ngôn hoặc trong một văn bản viết một chiều. Sự thực lập luận có thể nằm trong một phát ngôn, trong một diễn ngôn mà cũng có thể nằm trong lời đối đáp qua lại giữa các nhân vật hội thoại với nhau (sau này chúng ta sẽ gọi là lời thoại, lượt lời, tham thoại cặp thoại).
Những cuộc tranh luận, cãi cọ là những cuộc hội thoại trong đó Sp1 và Sp2 đưa ra những luận cứ dẫn tới những kết luận khác nhau nhằm giành phần thắng cho mình. Lại có những phát ngôn trong hội thoại tuy cũng do hai hoặc một số người khác nhau nói ra nhưng tất cả đều dẫn tới cùng một kết luận. Đơn giản nhất là lập luận sau đây của 3 nhân vật hội thoại Sp1, Sp2, Sp3. Sp1: Đi Đồ Sơn làm gì, vừa đông vừa chật chội, nước biển lại đục.
Sp2: Gần thành phố, thực phẩm ở đó đắt lắm. Giá khách sạn cao mà chưa chắc đã còn phòng mà thuê. Sp3: Năm nào cũng đi biển, chán lắm rồi. Sp1: Không đi Đồ Sơn thì đi đâu? Sa Pa nhé! Sp2, Sp3: Hoan hô Sa Pa.
Ba người nêu ra 3 loạt luận cứ tất cả đều dẫn đến kết luận “không đi Đồ Sơn”. Những cuộc hội thoại trong đó các nhân vật cùng hỗ trợ nhau dẫn tới cùng một kết luận sau này sẽ được gọi là những hội thoại đồng hướng. Các cuộc hội thoại đồng hướng lập luận phức hợp là những hội thảo thí dụ như về phòng chống ma túy, bảo vệ môi trường, v.v… Trong một cuộc tranh luận, các nhân vật hội thoại có thể đưa ra những lập luận dẫn tới những kết luận ngược nhau. Chúng ta nói những lập luận đó là 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghịch hướng với nhau.
Mỗi lập luận nghịch hướng là một phản lập luận (contre-argumentation) đối với nhau. Diễn ngôn độc thoại hay song thoại không phải chỉ có một lập luận mà thường là sự phối hợp của một số lập luận (và phản lập luận), các lập luận đó diễn tiến để dẫn đến kết luận cuối cùng, đích của toàn bộ diễn ngôn. Lập luận thường vận động trong diễn ngôn. Nghiên cứu mặt động của diễn ngôn chủ yếu là nghiên cứu vận động lập luận của nó.
Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh là hệ thống của những lập luận bộ phận, các lập luận đó liên kết với nhau, lập luận trước dẫn đến lập luận sau, tất cả tạo nên một vận động đi tới kết luận cuối cùng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lự lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy.” Trong vận động lập luận này trật tự trước sau của các lập luận bộ phận không thể thay đổi. Lời của cô Kiều nói với Kim Trọng khi anh chàng “có chiều lả lơi” là một diễn ngôn đơn thoại mà kết luận cuối cùng vừa là một lời “đe dọa”: Gieo thoi trước chẳng giữ giàng, Để sau nên thẹn cùng chàng bởi ai? (Câu hỏi có hành vi gián tiếp là đe dọa: Nếu chúng ta không rút kinh nghiệm của vụ gieo thoi ngày xưa mà cứ “làm tới” thì thiếp buộc phải hành động như cô gái ngày xưa, ném thoi vào giữa mặt Tạ Côn. Thiếp không làm như vậy, sau này thiếp sẽ thẹn với chàng, hạnh phúc đôi ta sẽ tan vỡ.
Thiếp có gieo thoi thì không chỉ vì thiếp mà còn vì chính chàng nữa đấy.) Vừa là một lời hứa hẹn ngọt ngào: Còn thân ắt lại đền bồi có khi. Kết luận này là hệ quả tất yếu của các lập luận bộ phận mà Kiều nói ở trước. Các lập luận trước đã vận động một cách hợp lí đến kết luận tổng thể cuối cùng này. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Sau đây là thí dụ về vận động lập luận trong một cuộc đối thoại giữa hai cô sinh viên tạm đặt tên là Hoa và Tâm.
Tâm 1: Yêu đương bây giờ nhạt nhẽo. Toàn những chuyện vớ vẩn. Hoa 1: Mày nhạt thì có ý. Yêu cũng hay chớ sao.
Tâm 2: Hay hớm gì cái trò ấy. Tao thì phải học cái đã. Bao nhiêu chị học giỏi ơi là giỏi, yêu vào là học dốt ngay. Hoa 2: Đấy là mấy bà không có bản lĩnh ấy chứ.
Tao quen một chị, chị này mới đầu học cũng bình thường nhưng yêu một anh, anh này học giỏi cực. Thế là hai anh chị giúp nhau cùng tiến. Tâm 3: Nghe cứ như là tiểu thuyết ấy. Làm gì có chuyện ấy.
Hoa 3: Sao mày cực đoan thế? Mày không tin à? Tâm 4: Bịa đặt. Tao mà yêu vào thì chỉ có học dốt đi thôi. Yêu là phải lo lắng này, suy nghĩ này, mệt cả người. Rồi không may nó bỏ thì có phải ốm cả tháng ý chứ.
Tao chả dại mà đâm đầu vào đấy. Hoa 4: Yêu cũng có cái hay chứ. Được dựa dẫm sướng quá còn gì. Tâm 5: Ôi dào, tao thèm vào ý.
Mà tao thấy thanh niên bây giờ toàn thằng dở hơi, tinh tướng. Anh cứ tưởng anh có cái xe máy là to lắm đấy, đi đâu mặt cũng vênh vác lên. Hoa 5: Thôi tao chẳng thèm nói với mày nữa. Mày bảo thủ lắm.
Mày làm như ai cũng xấu cả. Tâm 6: Chứ còn gì nữa, mày muốn yêu thì đi mà yêu. Tao thì chịu thôi. Hoa 6: Nói thế thôi chứ bây giờ ai rồ dại mà đi yêu đương.
Có muốn yêu bây giờ cũng chẳng có ma nào nhòm ngó. Yêu cũng phải tùy từng lúc chứ. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tâm 7: Tao thì cứ phải học xong đã. Hoa 7: Ừ… Trong cuộc đối thoại này, từ Tâm 1 đến Tâm 6, từ Hoa 1 đến Hoa 5 từng đôi lời thoại lập thành từng cặp lập luận -- phản lập luận.
Mặc dầu Tâm và Hoa có những ý kiến khác nhau về chuyện yêu đương trong lúc còn đi học nhưng cuối cùng họ cũng đi đến một kết luận (Hoa 6) dù là kết luận có tính miễn cưỡng.