Chương 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẬN DỤNG LÝ THUYẾT KIẾN TẠO TRONG DẠY HỌC VẬT LÝ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG NHẰM PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ CHO HỌC SINH 1. Lý thuyết kiến tạo trong dạy học 1. Cơ sở tâm lý học của lý thuyết kiến tạo Lý thuyết kiến tạo trong dạy học xuất phát từ một quan điểm của J.Piaget (nhà tâm lý học người Thụy Sĩ, 1896 - 1980) về các cấu trúc nhận thức. (dẫn theo [3][4]) Theo cấu trúc nhận thức thì mỗi người có một thế giới quan riêng, có một vốn hiểu biết riêng, có sự trải nghiệm riêng và thông qua đó tự kiến tạo riêng cho mình một hình ảnh thế giới.Piaget: Sự học bao gồm hai quá trình song song tồn tại.
Sự đồng hóa và điều ứng. Trong đó đồng hóa là sự tích hợp các thông tin, kiến thức từ sự trải nghiệm cá nhân, từ môi trường xung quanh với thông tin, kiến thức cũ tồn tại trong chính người học. Hệ thống những thông tin, kiến thức đó được người học sắp xếp theo ý riêng họ tạo nên hình ảnh thế giới riêng cho người học. Thông qua quá trình đồng hóa này mà người học có thể giải thích được một phần thế giới bên ngoài.
Tuy vậy, trong quá trình giải thích thế giới xung quanh, phát hiện ra sự không phù hợp của những hiểu biết, thông tin, kiến thức mới, khi đó quá trình thứ 2 là điều ứng phải thực hiện nhằm phù hợp và giải thích được theo yêu cầu mới. Để giải quyết các tình huống này, người học có thể điều chỉnh, thậm chí là bác bỏ các nhận thức, quan niệm cũ và hình thành cho mình một thế giới kiến thức mới. Khi những yêu cầu mới được giải quyết thì tồn tại sự cân bằng, sự thích nghi với yêu cầu của môi trường mới trong một giai đoạn nhất định. Như vậy, đồng hóa không làm thay đổi nhận thức mà chỉ mở rộng cái đã biết, còn điều ứng là làm thay đổi nhận thức và khi người học tiếp xúc với một thông tin mới, sự mất cân bằng sẽ bắt đầu xuất hiện cho tới khi có sự thích nghi với thông tin mới và khi đó sẽ có sự cân bằng mới.
* Những quan niệm chính của thuyết kiến tạo [1] - Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, tri thức mang tính chủ quan. 5 - Với việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, thuyết kiến tạo thuộc lí thuyết định hướng chủ thể. - Cần tổ chức sự tương tác giữa học sinh và đối tượng học tập, để giúp học sinh xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình, đã được chủ thể điều chỉnh. - Học không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích, cấu trúc mới tri thức.
Cơ sở triết học của lý thuyết kiến tạo [7] - Nhận thức luận duy vật: nhận thức là quá trình hoạt động thu nhận tri thức; - Bản chất của ý thức: tích cực, tự giác, sáng tạo… theo nhu cầu biến đổi khách thể; - Thực chất của tri thức tri nhận: hình ảnh chủ quan của thế giới bên ngoài… - Tri thức là vô hạn, kiến thức là không tuyệt đối, không tồn tại khách quan, không tồn tại độc lập, không mang tính ổn định, và không là bất biến. - Con người xây dựng kiến thức cho riêng mình thông qua vốn hiểu biết, thông qua tiếp xúc và tương tác với với môi tường, với thế giới xung quanh. - Quá trình nhận thức của con người là một quá trình học tập phức hợp dưới nhiều hình thức khác nhau, từ mang tính chất tự phát cho đến tự giác, có tổ chức chặt chẽ theo một chương trình có tính khoa học cao. Quá trình học tập của con người là một quá trình hoạt động tâm sinh lý với hàng loạt các thao tác và hành động liên tiếp được thực hiện trước hết bởi các cơ quan thụ cảm, sau đó bởi các cơ quan của hệ thần kinh trung ương.
Đồng thời nhờ có ngôn ngữ và các ký hiệu mà kết quả của quá trình đó được kiến tạo thành hệ thống tri thức của con người nhằm phản ánh thế giới hiện thực khách quan. - Trong triết học duy vật biện chứng, tư tưởng chính của lý thuyết kiến tạo đã được nhận thức luận Mác - Lênin khẳng định trong luận đề: Thế giới tự nhiên được tạo nên bởi vật chất, vật chất luôn vận động và tồn tại khách quan, con người có thể phản ánh được sự tồn tại và vận động của vật chất trong tư duy và hành động của mình. Như vậy, con người phải kiến tạo nên hệ thống tri thức để phản ánh thực tại xung quanh mình. Nếu hệ thống tri thức càng phong phú thì thực tại khách quan càng được phản ánh một cách sâu sắc và đầy đủ hơn.
Một số hiện tượng con người chưa 6 giải thích được đó là do hệ thống tri thức chưa được kiến tạo một cách đầy đủ. Khi đó, xuất hiện yêu cầu mở rộng tri thức và điều này thúc đẩy con người không ngừng nổ lực hoạt động và con người ngày càng nhận thức được thực tại sâu sắc hơn và tiệm cận với chân lý hơn. - Ta thấy rằng: tư tưởng nền tảng của lý thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức. Trong quá trình học tập, người học không ngừng nổ lực tư duy để vượt qua những khó khăn nhận thức, nhiều khi phải thay đổi những quan niệm không phù hợp để xây dựng quan niệm mới.
Một số luận điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo trong dạy học [3] * Định nghĩa về thuyết Kiến tạo trong dạy học [8] Thuyết kiến tạo (constructivism) là cách tiếp cận giảng dạy và học tập cho rằng con người chủ động tự xây dựng hiểu biết về thông tin cho bản thân - người học kết nối thông tin mới với thông tin hiện tại để kiến thức mới có ý nghĩa với cá nhân đó. Theo quan điểm của thuyết kiến tạo, con người xây dựng kiến thức của riêng họ và thể hiện kiến thức từ trải nghiệm của mình. Việc học tập không phải diễn ra nhờ quá trình chuyển thông tin từ giáo viên hay giáo trình đến bộ não của học sinh; thay vào đó, mỗi người học tự xây dựng hiểu biết hợp lý mang tính cá nhân của riêng họ. * Cơ chế của việc học trong môi trường học tập kiến tạo [1]:.
Học là một quá trình chủ động. Học là một quá trình tự điều khiển. Học là một quá trình kiến tạo. Học là một quá trình cảm xúc.
Học là một quá trình tình huống. Học là một quá trình xã hội Những đặc điểm cơ bản của học tập theo thuyết kiến tạo:. Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình và sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa học sinh và nội dung học tập. Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực và vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống và nghề nghiệp, được khảo sát một cách tổng thể.
Việc học tập chỉ có thể thực hiện trong hoạt động tích cực của người học, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân thì mới có thể thay đổi cá nhân hóa những kiến thức và kỹ năng đã có. Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác xã hội trong nhóm góp phần cho học sinh tự điều chỉnh sự học tập của bản thân. Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa. Nội dung học tập cần định hướng váo hứng thú người học, vì có thể học hỏi dễ nhất từ những nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính thách thức.
Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học. Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lí trí, mà cả về mặt tình cảm, thái đọ, giao tiếp. Mục đích của việc học tập là kiến tạo kiến thức của bản thân, nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức hợp. * Đặc trưng của việc học tiếp cận lý thuyết kiến tạo [9].
Học trong hoạt động. Học là sự vượt qua khó khăn. Học trong sự tương tác. Học thông qua hoạt động giải quyết vấn đề * Một số luận điểm cơ bản của lý thuyết kiến tạo theo Von Glasersfeld, nhà triết học người Đức, sinh năm 1917.
Tri thức được tạo nên một cách tích cực bởi chủ thể nhận thức chứ không phải tiếp thu một cách thụ động từ bên ngoài. Nhận thức là một quá trình thích nghi và tổ chức lại thế giới quan của chính mỗi người. Nhận thức không phải là khám phá một thế giới độc lập đang tồn tại bên ngoài ý thức của chủ thể. Học là một quá trình mang tính xã hội trong đó học sinh dần dần tự hòa mình vào các hoạt động trí tuệ của những người xung quanh.
Trong lớp, học sinh không chỉ tham gia vào việc khám phá mà còn tham gia vào quá trình xã hội bao gồm việc giải thích, trao đổi, đàm phán và đánh giá. Kiến thức và kinh nghiệm mà cá nhân thu nhận phải tương xứng với những yêu cầu mà tự nhiên và xã hội đặt ra. Học sinh đạt được kiến thức mới theo chu trình: Dự báo -> Kiểm nghiệm - >Thất bại -> Thích nghi -> Kiến thức mới. Có thể nói, thuyết Kiến tạo là một lí thuyết về học tập, chính xác hơn, là một chuỗi các lí thuyết và mô hình về học tập.
Trong ngữ cảnh này, thuyết Kiến tạo là trọng tâm của nguyên lí cốt lõi rằng việc học đòi hỏi sự năng động trong tạo lập tri thức bởi chính người học. Các quan điểm kiến tạo cũng nhận ra rằng tri thức được tạo bởi cá nhân phụ thuộc nhiều vào các khuôn mẫu diễn giải (interpretive framework) mà thông qua đó thông tin mới được sàng lọc. Dạy học kiến tạo 1. Cách tiếp cận kiến tạo trong dạy học [6] - Tạo môi trường học tập theo tư tưởng vận dụng lý thuyết kiến tạo, đảm bảo không gian, thời gian, trang thiết bị phục vụ học tập, đặc biệt là các tình huống có vấn đề để học sinh tích cực tham gia vào quá trình dạy và học.
- Tạo cơ hội để học sinh trình bày, nêu các quan điểm, thể hiện những hiểu biết, kiến thức vốn có của bản thân.