phần mở đầu và kết luận, Luận văn có kết cấu gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học Chƣơng 2: Tổ chức dạy học đoạn trích “Đất Nước” theo hƣớng vận dụng lí thuyết liên văn bản Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 1-7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 2 CƠ SỞ KHOA HỌC 1. Dạy học tích hợp Dạy học tích hợp bắt đầu được đề cập đến vào cuối những năm 1980 – đầu những năm 1990. Đây là một trong những quan điểm giáo dục mới, được xây dựng trên cơ sở những quan niệm tích cực về quá trình dạy học. Theo UNESCO, dạy học tích hợp là “một cách trình bày các khái niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau” [17].
Nguyễn Khắc Phi, tích hợp là “một phương pháp nhằm phối hợp một cách tối ưu các quá trình học tập riêng rẽ, các môn học khác nhau theo những hình thức mô hình, cấp độ khác nhau, nhằm đáp ứng những mục tiêu, mục đích và yêu cầu cụ thể khác nhau. Nguyễn Thanh Hùng “có thể hiểu tích hợp là một phương hướng phối hợp một cách tốt nhất các quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, Tiếng Việt, Làm văn trong một môn như Ngữ văn” [20. Có thể thấy rất nhiều quan niệm khác nhau về dạy học tích hợp, nhưng có thể hiểu khái niệm này một cách rõ ràng và khoa học như sau: dạy học tích hợp là “hành động liên kết các đối tượng nghiên cứu, giảng dạy, học tập cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học” [dẫn theo 3. Từ năm 2002, cùng với một số bộ sách giáo khoa thuộc các môn học khác, bộ sách Ngữ văn dành cho học sinh trung phổ thông được biên soạn, trên cơ sở quan niệm rằng tất cả hoạt động của con người (trong đó có hoạt động dạy học) cũng như mọi đơn vị kiến thức được đưa đến/ hình thành cho học sinh đều có tính tích hợp.
Quan niệm này chi phối việc lựa chọn các đơn vị bài học, với mục đích làm sao chúng tạo ra được sự kết nối tích cực nhất (hiểu theo nghĩa là thuận lợi nhất, tiết kiệm thời gian nhất) với hàng loạt kiến thức mà học sinh đã có, cần phải có. Từ đó, nguyên tắc tích hợp được xem là một nguyên tắc dạy học cơ bản, hiện đại và sự tích hợp được nhìn nhận như một tiêu chí quan trọng để đánh giá các giờ dạy – học. Với 2-8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dạy học theo nguyên tắc tích hợp, giáo viên sẽ đánh thức được mọi trữ lượng tinh thần của học sinh trong tiếp nhận tri thức, không để cái gì có ý nghĩa từng được thu vào bộ nhớ của họ lại bị bỏ quên vì tất cả đều có thể hữu ích. Cũng với dạy học tích hợp, học sinh sẽ học được cách tư duy tổng thể về thế giới, về sự vật, nhận diện được hoặc sẵn sàng tìm ra mối tương quan qua lại chằng chịt giữa mọi vấn đề của cuộc sống và của văn học Dạy học tích hợp trong môn Ngữ Văn thường được biết đến với hai hình thức là tích hợp liên môn và tích hợp nội môn.
Tích hợp liên môn Dạy học tích hợp liên môn là dạy học những nội dung kiến thức liên quan đến hai hay nhiều môn học. "Tích hợp" là nói đến phương pháp và mục tiêu của hoạt động dạy học còn "liên môn" là đề cập tới nội dung dạy học. Đã dạy học "tích hợp" thì chắc chắn phải dạy kiến thức "liên môn" và ngược lại, để đảm bảo hiệu quả của dạy liên môn thì phải bằng cách và hướng tới mục tiêu tích hợp [61]. Ở mức độ thấp thì dạy học tích hợp mới chỉ là lồng ghép những nội dung giáo dục có liên quan vào quá trình dạy học một môn học như: lồng ghép giáo dục đạo đức, lối sống; giáo dục pháp luật; giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; giáo dục sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trường, an toàn giao thông.
Mức độ tích hợp cao hơn là phải xử lí các nội dung kiến thức trong mối liên quan với nhau, bảo đảm cho HS vận dụng được tổng hợp các kiến thức đó một cách hợp lí để giải quyết các vấn đề trong học tập, trong cuộc sống, đồng thời tránh việc HS phải học lại nhiều lần cùng một nội dung kiến thức ở các môn học khác nhau. Với môn Ngữ văn, tích hợp liên môn là tích hợp giữa Ngữ văn với các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội khác. Để thực hiện tích hợp liên môn, người dạy cần phải xác định được nội dung kiến thức giữa các môn học có chủ đề nào chung. Chẳng hạn như: Kiến thức Ngữ Văn, Lịch sử, Địa lí, Giáo dục Công dân, có các nội dung kiến thức chung thuộc các chủ đề như: Môi trường, Bùng nổ dân số, Dịch bệnh, Truyền thống dân tộc, Xu hướng toàn cầu hóa và khu vực hóa.
Cụ thể hơn: Môn Ngữ văn và Lịch sử có các kiến thức chung về: Các tác phẩm văn học, Văn học nước ngoài, Văn hóa Phục hưng, Các tác giả, tác phẩm. Môn Ngữ văn và 2-9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giáo dục công dân có thể tích hợp giáo dục kĩ năng sống, ý thức công dân. Tích hợp nội môn Trong môn học, tích hợp là tổng hợp trong một đơn vị học, thậm chí trong một tiết học hay trong một bài tập nhiều mảng kiến thức, kĩ năng liên quan đến nhau nhằm tăng cường hiệu quả giáo dục và tiết kiệm thời gian cho người học. Có thể tích hợp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc.
a) Tích hợp theo chiều ngang là tích hợp các mảng kiến thức, kĩ năng trong môn học theo nguyên tắc đồng quy: Tích hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc mạch, phân môn này với mạch/ phân môn khác. Cụ thể là đối với môn Ngữ Văn, GV sử dụng tri thức của các phân môn tiếng Việt, Làm văn để giải mã văn bản văn học hoặc ngược lại dùng kiến thức của văn bản văn học làm ngữ liệu khi dạy tiếng Việt; lấy những vấn đề trọng tâm đáng chú ý của văn bản văn học để học sinh thực hành Làm văn (tạo lập văn bản). Thông qua những việc làm đó, GV cũng đang thực hiện việc tích hợp các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. trong môn Ngữ văn.
b) Tích hợp theo chiều dọc là tích hợp một đơn vị kiến thức, kĩ năng mới với những kiến thức, kĩ năng trước đó theo nguyên tắc đồng tâm. Cụ thể là: Kiến thức của lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức, kĩ năng của lớp dưới, cấp học dưới. Với môn Ngữ văn, đó chính là tích hợp theo thể loại, đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học. Mục đích của việc tích hợp này chủ yếu là so sánh, đối chiếu giữa các bài học có cùng đề tài, chủ đề, các đơn vị kiến thức có quan hệ tương đồng để khắc sâu kiến thức cho HS, giúp HS nhận ra những điểm giống nhau và khác biệt của các nội dung cần quan tâm trong bài học.
Ngoài ra, cách thức này có thể mở rộng tri thức, mở rộng kiến văn và hình thành tư duy logic cho người học. Kiểu tích hợp này trong dạy học đọc hiểu văn bản chính là vận dụng lí thuyết liên văn bản. Trên thực tế, khi đọc một văn bản, người ta không chỉ biết về mỗi văn bản đó mà còn được biết/ phải biết đến nhiều văn bản khác có liên quan. Hiểu được bản chất của văn bản cũng như biết vận dụng lý thuyết liên văn bản, hẳn người dạy sẽ nhận thấy có một cơ hội lớn để làm giàu kiến thức văn học, văn hóa học, kiến thức về đời sống cho HS trong dạy học đọc hiểu văn bản.
Việc “làm giàu” này hàm chứa hai vấn đề có mối tương liên nhưng không phải là một, đó là củng cố và bổ sung kiến thức. Chương trình học vốn là một hệ thống chặt chẽ. Một văn bản không 2-10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao giờ xuất hiện trong chương trình một cách ngẫu nhiên. Nó là một mắt xích trong chuỗi xích, là một điểm nút trên xa lộ, kết nối với nhiều ngả đường khác nhau.
Khi tìm hiểu một văn bản, thường người dạy, người học đã có được những tiền đề thuận lợi, hình thành qua việc chiếm lĩnh các văn bản dạy – học trước đó. Những kiến thức tạo nên tiền đề đó nếu bị quên thì cần được nhắc lại, và ta gọi đây là trường hợp củng cố kiến thức – củng cố đồng thời với việc tiếp nhận, hình thành kiến thức mới. Trường hợp GV hay HS biết thiết lập đường dây liên hệ giữa văn bản được học với những văn bản khác chưa từng được học, nhưng thực sự có giá trị soi tỏ ý nghĩa văn bản được quy định tìm hiểu trong chương trình, ta có thể gọi đó là sự bổ sung kiến thức. Tất nhiên, cái gọi là bổ sung này chỉ mang ý nghĩa tương đối, bởi đối với người này thì nó là sự bổ sung, thêm vào nhưng đối với người khác, nó chỉ là sự nhắc lại, nhớ lại.
Nhìn chung, với sự bổ sung vừa nói, điều quan trọng nhất là người dạy, người học nhìn ra được tiềm năng ý nghĩa vô hạn của tác phẩm, rồi chính việc “nhìn ra” đó sẽ kích thích họ tiếp tục khám phá. Hành trình kiến tạo ý nghĩa là một hành trình không có điểm dừng. Những cái vừa đạt được, đến lượt mình, sẽ tạo nên những điểm xuất phát mới cho việc chiếm lĩnh các văn bản tiếp theo. Điều đó chứng minh cho việc những giờ dạy học được đánh giá tốt luôn luôn là những giờ học đầy tính gợi mở, biết đánh thức bao mối liên hệ tiềm ẩn giữa văn bản và đời sống bao quanh nó.
Vấn đề không phải là từ đó HS ghi nhớ được bao nhiêu mối liên hệ cụ thể, xác định mà là HS nhận thức được vấn đề: những mối liên hệ đó có hay không hoàn toàn tùy thuộc vào sự hoạt động tích cực của chính người học – chủ thể tiếp nhận, chủ thể của hoạt động học. Dù tự giác hay không tự giác, từ rất lâu, sự tích hợp trong hoạt động dạy và hoạt động học đã được thực hiện. Khi cả người dạy và người học thực hiện sự kết nối giữa văn bản này với văn bản khác, văn bản văn học với “văn bản” văn hóa, thời đại xã hội.