CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN (TOTAL QUALITY CONTROL – TQC) TRONG DOANH NGHIỆP. Khái quát kế toán quản trị: 1. Lược sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị: Kế toán quản trị có nguồn gốc từ sự ra đời của quản trị, phân quyền trong doanh nghiệp vào những năm đầu của thế kỷ XIX. Hình thức ban đầu của Kế toán quản trị là Kế toán chi phí.
Mục tiêu của kế toán chi phí lúc bấy giờ là cung cấp thông tin liên quan đến chi phí cho các nhà lãnh đạo doanh nghiệp nhằm thực hiện công tác hoạch định và kiểm soát các nguồn lực. Sau đó kế toán chi phí được áp dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp thuộc các lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong các lĩnh vực sản xuất vật chất. Khi nền kinh tế thế giới ngày càng phát triển, cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, quy mô xí nghiệp ngày càng lớn, đòi hỏi doanh nghiệp phải có công cụ phù hợp hơn để cung cấp thông tin đúng lúc và đáng tin cậy. vai trò kế toán chi phí ngày càng trở nên quan trọng và là nền tảng ra đời của kế toán quản trị.
Paul Garner trong tác phẩm “Evolution of Cost Accounting to 1925” tái bản lần thứ 4 năm 1893, đã mô tả rất chi tiết quá trình phát triển nhanh chóng của kế toán quản trị trong thời kỳ cuối thế kỷ XIX. Lịch sử phát triển kế toán quản trị có thể chia thành các giai đoạn chính sau đây: [7.10] Giai đoạn 1 - Trước năm 1950, Kế toán quản trị chủ yếu quan tâm vào việc xác định chi phí và kiểm soát tài chính, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật dự toán và kế toán chi phí. Giai đoạn 2 – Vào năm 1965, sự quan tâm của kế toán quản trị đã chuyển vào việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 10 nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích quyết định và kế toán trách nhiệm. Giai đoạn 3 – Vào năm 1985, Kế toán quản trị tập trung quan tâm vào việc làm giảm hao phí nguồn lực sử dụng trong các quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và quản lý chi phí.
Giai đoạn 4 – Vào năm 1995, kế toán quản trị chuyển qua quan tâm vào việc tạo giá trị bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng , giá trị cho cổ đông và sự thay đổi cho tổ chức. Tuy quá trình phát triển của kế toán quản trị được ghi nhận thành bốn giai đoạn nhưng sự thay đổi từ giai đoạn này qua giai đoạn khách của quá trình đó đan xen vào nhau và chuyển hóa dần. Mỗi giai đoạn của quá trình phát triển thể hiện một sự thích nghi với những điều kiện mới đặt ra cho tổ chức, thể hiện bằng sự hòa nhập, kết cấu lại, và bổ sung thêm vào nội dung quan tâm và các kỹ thuật đã sử dụng trước đó. Ngày nay, kế toán quản trị được coi là một bộ phận hợp thành quan trọng của hệ thống quản trị doanh nghiệp hiện đại.
Cùng với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin, hệ thống kế toán quản trị đã không ngừng hoàn thiện, phát triển trở thành một công cụ đắc lực hỗ trợ cho nhà quản trị trong việc ra quyết định. Định nghĩa về kế toán quản trị: Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị: Theo tác già Robert S.Kaplan và Anthony A. Atkinson trong cuốn “Advanced Management Accounting” đã định nghĩa về kế toán quản trị như sau “Hệ thống kế toán cung cấp thông tin cho những người quản lý doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát hoạt động của họ” [13.2] LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 11 Theo định nghĩa của Viện kế toán viên quản trị Hoa kỳ thì “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức, và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”.11] Theo Luật Kế toán Việt Nam, “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” Tóm lại, tùy thuộc vào các quan điểm khác nhau, có thể định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị. Tuy nhiên sự khác nhau là không nhiều.
Có thể nói, kế toán quản trị không chỉ đơn thuần là hệ thống thu thập và phân tích thông tin về các khoản chi phí của doanh nghiệp, mà còn là hệ thống tổ chức quản trị các hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung, kể cả quản trị chiến lược và hệ thống đánh giá hoạt động của các bộ phận, phòng ban chức năng, nhằm đảm bảo sử dụng tối ưu các nguồn lực vật chất, tài chính và nhân lực. Mục tiêu của kế toán quản trị: Mục tiêu chính của kế toán quản trị là cung cấp thông tin cho lãnh đạo doanh nghiệp để ra quyết định quản trị đúng và kịp thời, giúp lãnh đạo chủ động tham gia vào quá trình quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị. Các mục tiêu của kế toán quản trị bao gồm: Cung cấp thông tin: thu thập và cung cấp thông tin cần thiết cho lãnh đạo mọi cấp nhằm hoạch định, đánh giá và quản trị các hoạt động sản xuất kinh doanh, đảm bảo việc bảo tồn và tăng tài sản doanh nghiệp. Tham gia vào quá trình quản trị: Quá trình quản trị bao gồm ra quyết định chiến lược, chiến thuật và tác nghiệp hành động phối hợp sức mạnh trong phạm vi doanh nghiệp nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, chú trọng đến kết quả đạt được trong các mục tiêu dài hạn, trung hạn và ngắn hạn.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Thông tin kế toán quản trị: Thông tin kế toán quản trị là các số liệu tài chính và số liệu vật chất về các mặt hoạt động, các quá trình, các đơn vị kinh doanh, các loại sản phẩm, dịch vụ, khách hàng… của một tổ chức, thí dụ như giá thành tính toán của một sản phẩm, một hoạt động hay một của một bộ phận ở kỳ hiện hành.12] Hệ thống thông tin kế toán quản trị là một trong những nguồn thông tin ban đầu của quá trình ra quyết định và kiểm tra trong tổ chức. Hệ thống này cung cấp thông tin có tác dụng giúp các thành viên trong tổ chức có những quyết định tốt hơn, qua đó cải tiến kết quả chung của tổ chức. Đối tượng sử dụng thông tin kế toán quản trị là những người bên trong tổ chức như: [8.8] Công nhân viên: Đánh giá kết quả công việc của bản thân để tiềm biện pháp nâng cao kết quả, sử dụng các nguồn lực được giao hiệu quả hơn.
Nhà quản trị các cấp, gồm cả các thành viên Hội đồng quản trị: Điều hành, đánh giá, kiểm tra và ra quyết định. Họ sử dụng thông tin kế toán quản trị nhằm phục vụ cho các quyết định về điều hành, đánh giá, kiểm tra hoạt động của sản xuất kinh doanh của tổ chức và của chính họ. tùy theo vị trí của họ trong tổ chức mà kế toán quản trị sẽ thiết kế số lượng và số loại thông tin cung cấp phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của họ, phản ánh hoạt động của từng người để giúp họ qua đó rút ra bài học từ kết quả đạt được nhằm cải tiến thực hiện trong tương lai. Chức năng của thông tin kế toán quản trị: [8.10,11] Kiểm soát hoạt động: Quá trình cung cấp thông tin phản hồi về chất lượng và hiệu quả của các hoạt động đang thực hiện cho nhân viên và những người quản lý họ.
Tính giá thành sản phẩm: Đo lường giá vốn của các nguồn lực đã sử dụng để sản xuất một sản phẩm hay dịch vụ. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 13 Tính giá thành khách hàng: Quá trình phân bổ các chi phí tiếp thị, bán hàng, phân phối và quản lý cho từng khách hàng để xác định chi phí phục vụ từng khách hàng. Kiểm soát quản lý: Cung cấp thông tin về kết quả của các nhà quản lý và các đơn vị kinh doanh. Kiểm soát chiến lược: Cung cấp thông tin về kết quả tài chính và kết quả có tính cạnh tranh lâu dài, các điều kiện thị trường, thị hiếu của khách hàng và các cải tiến về mặt kỹ thuật của doanh nghiệp.
Trong luận văn này tập trung chủ yếu vào chức năng kiểm soát, đặc biệt là chức năng kiểm soát hoạt động và quản lý của thông tin kế toán quản trị. Các thông tin đó bao gồm: Thông tin các hoạt động đầu vào: là thông tin các hoạt động liên quan đến việc chuẩn bị sẵn sàng để sản xuất chế biến sản phẩm, gồm các thông tin về hoạt động nghiên cứu phát triển sản phẩm và thị trường, hoạt động thuê mướn và đào tạo công nhân, hoạt động thu mua các yếu tố đầu vào vật chất cần thiết cho sản xuất như nguyên liệu, phụ tùng, thiết bị… Thông tin các hoạt động sản xuất chế biến: là thông tin các hoạt động liên quan đến việc chế tạo sản phẩm, gồm thông tin về hoạt động vận hành máy móc và công cụ sản xuất, hoạt động vận chuyển, bảo quản sản phẩm dỡ dang và hoạt động kiểm tra chất lượng bán thành phẩm. Thông tin các hoạt động đầu ra: là thông tin các hoạt động liên quan đến việc giao tiếp với khách hàng, gồm thông tin về hoạt động bán hàng, hoạt động giao hàng, hoạt động dịch vụ hậu mãi. Thông tin các hoạt động điều hành: là thông tin các hoạt động nhằm phục vụ ba nhóm hoạt động trên, gồm các thông tin hoạt động thuộc chức năng đều hành chung như tổ chức nhân sự, xử lý số liệu, kế toán, quản lý chung… LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trang 14 Thông tin về việc sử dụng hữu hiệu và hiệu quả các nguồn lực của tổ chức nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức đã đề ra.
Tính hiệu quả liên quan đến việc so sánh giữa con người, đất đai và vốn với năng suất lao động, hay mức sử dụng nguyên liệu.