CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM (BALANCED SCORECARD - BSC) 1. TỔNG QUAN VỀ BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM (BSC) 1. Sơ lược lịch sử hình thành BSC: Balanced Scorecard được phát triển bởi Robert S.Kaplan, một giáo sư kế toán tại Trường Đại Học Harvard và David P.Norton, một chuyên gia tư vấn từ Boston. Năm 1990, Kaplan và Norton dẫn đầu thực hiện nghiên cứu chuyên sâu tại 12 công ty nhằm khám phá phương pháp mới đánh giá thành quả hoạt động.
Động cơ cho cuộc nghiên cứu để khẳng định các thước đo tài chính không còn hữu hiệu cho doanh nghiệp kinh doanh trong thời kỳ hiện đại. Các công ty được nghiên cứu cùng với Kaplan và Norton đã bị thuyết phục rằng niềm tin vào thước đo tài chính hiện tại đang ảnh hưởng đến khả năng tạo ra giá trị. Nhóm nghiên cứu đã thảo luận một số phương pháp có thể thay thế; các phương pháp này là ý tưởng hình thành phương pháp mới mà Kaplan và Norton đã đặt tên là Balanced Scorecard - BSC và sau này được tóm tắt khái niệm lần đầu tiên trong nhiều bài viết trên tạp chí “Harvard Business Review”. BSC nắm bắt các hoạt động trong doanh nghiệp qua các khía cạnh – tài chính, khách hàng, hoạt động kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển.
Bốn năm sau đó, một số doanh nghiệp áp dụng BSC và đã gặt hái được thành công tức thời. Kaplan và Norton phát hiện những doanh nghiệp này không chỉ dùng BSC để bổ sung cho các phương pháp đánh giá tài chính hướng tới thành quả tương lai mà còn dùng nó để truyền đạt chiến lược của doanh nghiệp thông qua các thước đo mà các nhà quản trị lựa chọn, BSC nổi bật với các doanh nghiệp toàn cầu như một công cụ chủ yếu trong việc thực thi chiến lược. Kaplan và Norton tóm tắt và truyền đạt các khái niệm đó trong cuốn “The Balanced Scorecard” vào năm 1996. Từ đó, BSC được áp dụng trong hơn phân nửa các công ty đại chúng đứng đầu ở Mỹ.
Sự phát triển không hề suy giảm, các doanh nghiệp với quy mô lớn, trung bình, nhỏ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 đều thấy được lợi ích và sự hữu hiệu của BSC. BSC dùng hiệu quả trong cả công ty kinh doanh, tổ chức phi lợi nhuận và các đơn vị hành chính sự nghiệp. Nó được chấp nhận rộng rãi và áp dụng hiệu quả đến nỗi “Harvard Business Review” hoan nghênh như là một trong 75 ý tưởng ảnh hưởng nhất thế kỷ 20. Khái niệm BSC: Tầm nhìn: là một bức tranh cụ thể mà tổ chức mong muốn và có thể đạt được trong một khoảng thời gian nhất định.
Nó cũng cung cấp nền tảng để hình thành chiến lược và mục tiêu của tổ chức Chiến lược: có người xem là công cụ quản trị ở mức độ cao. Người khác lại xem là những hành động chi tiết, cụ thể mà tổ chức phải làm để đạt được tương lai như mong muốn. BSC là một hệ thống nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể thông qua việc thiết lập một hệ thống để đo lường thành quả hoạt động trên bốn phương diện: tài chính, khách hàng, hoạt động kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển được minh họa qua sơ đồ 1.1 Bốn phương diện này cho phép tạo ra sự cân bằng đó là: Cân bằng giữa mục tiêu ngắn hạn – mục tiêu dài hạn. Cân bằng giữa những đánh giá bên ngoài liên quan đến các cổ đông, khách hàng – những đánh giá nội bộ liên quan đến qui trình xử lý, đổi mới, học hỏi và phát triển.
Cân bằng giữa kết quả mong muốn đạt được (tương lai) – những kết quả trong thực tế (quá khứ). Cân bằng giữa những đánh giá khách quan – đánh giá chủ quan. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: BSC đưa ra mô hình chuyển chiến lược thành những hành động cụ thể Robert S. Sự cần thiết phải sử dụng BSC trong đánh giá thành quả hoạt động Thời đại thông tin thay thế thời đại công nghiệp cùng với môi trường cạnh tranh khốc liệt toàn cầu đã tác động đến toàn thể các tổ chức trên toàn thế giới.
Để thấy được sự cần thiết của BSC trong đánh giá thành quả hoạt động cần đi vào phân tích hai yếu tố chính dẫn đến sự hình thành nên BSC: Sự gia tăng của tài sản vô hình Hạn chế của thước đo truyền thống LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự gia tăng của tài sản vô hình Cuộc cách mạng khoa học công nghệ trong những thập niên cuối của thế kỷ 20 đã đưa nhân loại tiến đến thời đại công nghệ thông tin với sự trợ giúp đắc lực của máy vi tính và mạng thông tin toàn cầu internet. Thế mạnh của các tổ chức trong thời đại công nghiệp như sự chuyên môn hoá, ứng dụng khoa học công nghệ để có máy móc thiết bị hiện đại và khai thác chúng phục vụ cho việc sản xuất sản phẩm hàng loạt, sự cắt giảm chi phí, quản lý tốt tài chính, tài sản và các khoản nợ. đã không còn tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các tổ chức mà thay vào đó, lợi thế cạnh tranh của các tổ chức là khả năng huy động và triển khai tài sản vô hình.
Khác với nguồn hình thành của các tài sản hữu hình, các tài sản vô hình có thể được tạo ra từ việc: Phát triển mối quan hệ với khách hàng để duy trì lòng trung thành của khách hàng hiện tại và phát triển những phân khúc thị trường mới. Phát triển dòng sản phẩm và dịch vụ mới nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng tiềm năng. Sản xuất sản phẩm và cung cấp dịch vụ chất lượng cao, chi phí thấp sẵn sàng phục vụ khách hàng. Xây dựng kỹ năng và động lực thúc đẩy nhân viên để họ không ngừng phát triển khả năng, chất lượng và sự hưởng ứng trong công việc Triển khai công nghệ thông tin, hệ thống cơ sở dữ liệu Sự gia tăng giá trị của tài sản vô hình đã đưa đến một yêu cầu đòi hỏi hệ thống đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức phải ghi nhận đầy đủ giá trị và quản lý tài sản vô hình để ngày càng mang lại nhiều nguồn lợi cho tổ chức.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Hạn chế của các thước đo tài chính truyền thống Dù mục tiêu tài chính là đích đến cuối cùng của đại bộ phận các tổ chức nhưng việc phụ thuộc gần như duy nhất vào những thước đo tài chính trong thời đại công nghiệp đã bộc lộ nhiều khiếm khuyết không thể khắc phục được khi đánh giá thành quả hoạt động của các tổ chức trong thời đại thông tin. Thứ nhất, thước đo tài chính truyền thống không cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá thành quả hoạt động. Các báo cáo tài chính hiện nay vẫn cung cấp các thông tin tài chính mà không cung cấp đầy đủ thông tin phi tài chính như tài sản vô hình đặc biệt là các tài sản vô hình thuộc về trí tuệ của tổ chức và năng lực của tổ chức vì không đưa ra được giá trị đáng tin cậy.
Thêm nữa, các thước đo tài chính chỉ đưa ra các kết quả trong quá khứ mà thường thiếu đi sức mạnh dự báo và các thước đo tài chính thường được sử dụng để đánh giá thành quả của các nhà quản lý cấp cao, không thể sử dụng để đánh giá thành quả hoạt động của nhân viên cấp thấp hơn. Thứ hai, hy sinh lợi ích trong dài hạn để đạt được các mục tiêu ngắn hạn. Các hoạt động tạo ra giá trị dài hạn trong tổ chức có thể bị ảnh hưởng bởi các mục tiêu tài chính ngắn hạn như tối thiểu hóa chi phí bằng cách cắt giảm lao động. Điều này sẽ dẫn đến một sự thu hẹp về qui mô.
Giáo sư Wayne Cascio (trường Đại học kinh doanh Colorado) đã chứng minh rằng thu hẹp qui mô không chỉ làm tổn thương nhân viên bằng việc sa thải họ mà còn phá hỏng giá trị của tổ chức trong dài hạn. Thứ ba, việc hạch toán kế toán có thể bị bóp méo để phục vụ những mục đích tài chính trong ngắn hạn. Nhiều tổ chức lợi dụng tài khoản chờ phân bổ chi phí để tăng lợi nhuận, khai khống doanh thu và gian lận trong các khoản phải thu để đạt mức tăng trưởng mong muốn trong báo cáo. Vì việc đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức chỉ dựa vào các kết quả tài chính thể hiện trên các báo cáo tài chính nên tình trạng các chỉ số tài chính bị “chế biến” theo mục đích của người đứng đầu tổ chức thường xuyên LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 xảy ra.
Thông tin cung cấp cho bên ngoài không còn khách quan và hoàn toàn khác so với thông tin nội bộ của tổ chức. Để đáp ứng yêu cầu về hệ thống đánh giá thành quả hoạt động trong thời đại công nghệ thông tin và khắc phục những nhược điểm của hệ thống đo lường trong thời đại công nghiệp, công cụ đo lường thành quả hoạt động của kế toán quản trị đó là BSC đã ra đời. BSC là công trình nghiên cứu xuất sắc nhất và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất của Giáo sư Robert S.Kaplan và đồng tác giả David P. BSC đã được áp dụng thành công ở nhiều công ty tư nhân, các tổ chức phi chính phủ và các cơ quan nhà nước hoạt động trong nhiều lĩnh vực trên toàn thế giới trong gần hai thập kỷ kể từ ngày ra đời cho tới nay.
Trong thời gian gần đây, khái niệm “Balanced scorecard” hay “Bảng cân bằng điểm” đã xuất hiện trên nhiều website của các sở khoa học công nghệ tại nhiều tỉnh thành ở Việt Nam. Một số tập đoàn tên tuổi có sự tham gia của các đối tác nước ngoài đang áp dụng hiệu quả mô hình này như FPT, Unilever Việt Nam, công ty LD Phú Mỹ Hưng… 1. CHIẾN LƯỢC: Như đã nói trong phần định nghĩa, BSC là một hệ thống nhằm chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu và thước đo cụ thể. Điều đó cho thấy tầm nhìn và chiến lược giữ vai trò then chốt trong BSC.
Tổ chức muốn áp dụng BSC cần xác định tầm nhìn và chiến lược rõ ràng, phù hợp với điều kiện chủ quan, khách quan trong tình hình hiện tại. Chính vì vậy, lý luận về các yếu tố quyết định cạnh tranh và các chiến lược cạnh tranh cơ bản cũng đóng góp phần lớn vào lý thuyết BSC. Mô hình năm áp lực cạnh tranh của Michael Porter: Giáo sư Michael E.