CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢNG CÂN BẰNG ĐIỂM (BALANCED SCORECARD) 1. Sự cần thiết của Bảng cân bằng điểm Trước những năm 1900, các doanh nghiệp sử dụng thu nhập ròng để đo lường hiệu suất hoạt động, thu nhập được đo trong mối liên hệ tương đối với doanh thu bán hàng hoặc chi phí của các hoạt động mà không quan tâm đến tài sản sản xuất của tổ chức đã đầu tư. Điển hình vào thế kỷ 19, các chủ sở hữu, doanh nghiệp, dù là một nhà máy dệt, đường sắt, một công ty thép hoặc một tổ chức bán lẻ chỉ tập trung vào thực hiện hiệu quả hoạt động kinh tế một cách riêng lẻ. Trong ngắn hạn, chủ sở hữu chỉ cố gắng quản lý chi phí trong duy nhất một hoạt động.
Họ đã không chọn các hoạt động thay thế để đầu tư. Theo mục đích này, tỷ lệ của chi phí trên doanh thu, hoặc lợi nhuận trên doanh thu dường như cung cấp một hướng dẫn đầy đủ cho lợi nhuận đầu tư. Công ty DuPont Powder được thành lập năm 1903, khi mà các doanh nghiệp trước đó hoạt động riêng biệt và độc lập kết hợp lại với nhau có một thách thức mới mà tổ chức phải đối mặt là phối hợp và phân bổ nguồn tài nguyên cho các hoạt động sản xuất, mua và bán của các đơn vị thực hiện hoạt động khác nhau. Để hướng dẫn cho quyết định đầu tư, công ty DuPont đã thiết lập chỉ tiêu lợi nhuận trên tài sản đầu tư (ROI).
Donaldson Brown, giám đốc tài chính của công ty đã phát triển chỉ tiêu này thành tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu nhân với doanh thu trên tài sản đầu tư. [8, 500] Tuy nhiên việc sử dụng ROI để đánh giá thành quả hoạt động gặp phải những nhược điểm như: việc sử dụng ROI để đánh giá thành quả của các bộ phận trong ngắn hạn có những hạn chế; những biểu hiện tăng ROI trong ngắn hạn ở các bộ phận cũng có thể có khả năng ảnh hưởng xấu đến mục tiêu chung của tổ chức, làm giảm giá trị kinh tế về lâu dài của tổ chức; ROI ở các bộ phận có dấu hiệu giảm xuống trong ngắn hạn chưa chắc đã ảnh hưởng xấu đến mục tiêu chung của tổ chức, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 5 ngược lại có thể tạo ra giá trị kinh tế lâu dài cho toàn tổ chức; ROI có hạn chế khi sử dụng để so sánh thành quả quản lý của hai bộ phận trong ngắn hạn. [8, 506] Vào cuối những năm 1980, khi một số công ty tư vấn tài chính công bố nghiên cứu cho thấy mối tương quan cao giữa những thay đổi trong thu thập còn lại và thay đổi trong xác định giá thị trường của chứng khoán. Khái niệm giá trị kinh tế tăng thêm (EVA) được tổ chức tư vấn Stern Stewart xây dựng và công bố trên tạp chí Ứng dụng tài chính doanh nghiệp và lên đến đỉnh điểm là câu chuyện trong trang bìa của tạp chí Fortune xuất bản ngày 20 tháng 9 năm 1993 với tựa đề “EVA – Chìa khóa tạo ra sự giàu có”.
[8, 508] Thước đo tài chính cung cấp những chỉ số đầy đủ của những gì thực hiện trong quá khứ nhưng không cung cấp những tín hiệu cho sự cải tiến hiện tại hay giảm khả năng tổ chức. Làm thế nào để nhà quản lý lựa chọn được biện pháp để giúp họ giao tiếp, động viên và đánh giá quá trình điều khiển hoạt động tài chính trong tương lai. Thước đo phi tài chính về khách hàng, quy trình hoạt động nội bộ, học hỏi và phát triển sẽ cung cấp cho tổ chức những chỉ số dẫn đầu tạo ra giá trị kinh tế dài hạn. Cần có sự cân bằng giữa các thước đo tài chính và phi tài chính, đây sẽ là nguồn gốc và liên kết với các chiến lược kinh doanh cho phép các tổ chức quản lý việc tạo ra giá trị trong ngắn hạn và dài hạn.
[8, 569] Với những hạn chế của các thước đo tài chính và sự gia tăng nhanh chóng của các tài sản vô hình đòi hỏi cần có một sự cân bằng, liên hệ giữa các thước đo tài chính và phi tài chính. Về sự gia tăng của tài sản vô hình Vào những thập niên cuối của thế kỷ 20 với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ đã mang đến cho con người nhiều phát minh, sáng kiến mới. Điều này kéo theo việc khẳng định lợi thế cạnh tranh của các tổ chức không thể chỉ bằng việc sử dụng hiệu quả tài sản hữu hình mà phải khai thác các tài sản vô hình. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Các tài sản vô hình của một tổ chức đó là: - Phát triển các mối quan hệ với khách hàng để duy trì lòng trung thành của khách hàng hiện có, phân khúc khách hàng và các khu vực thị trường được phục vụ một cách hiệu quả.
- Giới thiệu những sản phẩm sáng tạo và các dịch vụ mong muốn của phân khúc khách hàng mục tiêu. - Sản xuất những sản phẩm và dịch vụ chất lượng cao, chi phí thấp và thời gian ngắn. - Huy động kỹ năng nhân viên và tạo động lực để cải tạo liên tục để phát triển khả năng, chất lượng và thời gian phản hồi. - Triển khai hệ thống công nghệ thông tin và cơ sở dữ liệu.
[8, 367] Giá trị của các tài sản vô hình không chỉ giải thích cho tổ chức thấy được kết quả mà tổ chức đã đạt được trong quá khứ mà còn là cơ sở để dự đoán cho sự phát triển trong tương lai của tổ chức. Chính vì thế mà ngày nay các tổ chức đã ra sức đầu tư vào các tài sản vô hình này để nâng cao lợi thế cạnh tranh của mình. Điều này càng thấy rõ hơn qua nghiên cứu của viện Brookings, giá trị tài sản vô hình trong tổ chức không ngừng được đầu tư và tăng thêm. Cụ thể năm 1982 giá trị này chiếm 38%, đến năm 1992 là 62% và vào những năm đầu thế kỷ 21 là 75%.
[1, 5] Về sự hạn chế của những thước đo tài chính Việc tổ chức chỉ sử dụng thước đo tài chính như doanh thu, lợi nhuận, … để đánh giá thành quả hoạt động của tổ chức đã không còn phù hợp trong thời đại phát triển của khoa học công nghệ bỡi: - Các thước đo tài chính không cung cấp đầy đủ các thông tin để đánh giá thành quả hoạt động. Các báo cáo tài chính chỉ phản ánh những gì đã xảy ra trong quá khứ dựa trên các thước đo tài chính, không đề cập đến thước đo phi tài chính như giá trị tài sản vô hình mà nhất là giá trị trí tuệ, năng lực của con người. Vì thế nếu căn cứ vào báo cáo tài chính, người ta chỉ có thể biết được trong quá khứ tổ chức đó đã đạt được những kết quả tài chính nào mà không thể tiên liệu, dự báo được các yếu tố nào sẽ quyết định đến sự thành công trong tương lai của tổ chức đó. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Mặc khác, các thước đo tài chính chỉ để đánh giá thành quả hoạt động của các nhà quản lý cấp cao, không đánh giá được thành quả hoạt động của nhân viên cấp dưới.
- Khi chỉ sử dụng thước đo tài chính để đánh giá thành quả hoạt động thì các nhà quản lý bộ phận có thể hy sinh lợi ích trong dài hạn để đạt được mục tiêu ngắn hạn. Một tổ chức có thể tăng lợi nhuận trước mắt thông qua việc giảm chi phí dịch vụ khách hàng nhưng doanh thu, lợi nhuận của tổ chức trong tương lai chắc chắn sẽ giảm do sự thoả mãn của khách hàng giảm và khách hàng sẽ tìm đến các tổ chức khác. - Mặc khác, việc hạch toán kế toán có thể bị bóp méo để phục vụ những mục đích tài chính trong ngắn hạn. Chẳng hạn như nếu tổ chức sử dụng ROI để đánh giá thành quả của các bộ phận thì nhà quản lý bộ phận sẽ sẵng sàn bán bớt tài sản cố định để tăng ROI nhằm phục vụ cho mục đích tài chính của mình, để được khen thưởng, nhưng điều này sẽ làm giảm nguồn lực sản xuất của doanh nghiệp trong tương lai.
Khái niệm và mục đích của bảng cân bằng điểm 1. Khái niệm bảng cân bằng điểm Với sự đời của bảng cân bằng điểm do Giáo sư Robert S.Kaplan và cộng sự của ông là David Norton phát triển vào những năm đầu của thập kỷ 90 đã giúp cho các tổ chức có được một hệ thống đo lường, đánh giá thành quả hoạt động không chỉ liên quan đến thước đo tài chính mà cả thước đo phi tài chính.Kaplan – cha đẻ của Bảng điểm cân bằng (Balanced Scorecard - BSC) hiện là Giáo sư chuyên ngành kế toán và quản trị tại Trường kinh doanh Harvard. Công trình nghiên cứu xuất sắc nhất và có tầm ảnh hưởng sâu rộng nhất trong sự nghiệp của ông cho tới nay là BSC. Đây là công cụ chuẩn hóa giữa chiến lược và hoạt động của doanh nghiệp, do ông cùng đồng nghiệp David Norton sáng tạo ra.
Cuốn sách “Bảng điểm cân bằng: Biến chiến lược thành hành động” của hai ông đã được dịch ra 22 thứ tiếng và giành Huy chương vàng giải thưởng Wildman năm 2001 do Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (AAA) trao tặng vì tính thiết thực của nó. [9, Rober S Kaplan và bảng điểm cân bằng] TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.1: GS Robert Kaplan và cuốn sách Bảng điểm cân bằng: Biến chiến lược thành hành động Bảng cân bằng điểm được phát triển để truyền đạt những mục tiêu, nhiều liên kết mà công ty phải đạt được để hoàn thành trên cơ sở khả năng và đổi mới chứ không chỉ dựa trên tài sản hữu hình. Bảng cân bằng điểm chuyển tầm nhìn và chiến lược thành các mục tiêu, thước đo, được tổ chức thành bốn phương diện: tài chính, khách hàng, quy trình kinh doanh nội bộ, học hỏi và phát triển. [8, 368] Mỗi phương diện trong Bảng cân bằng điểm bao gồm: các mục tiêu, các thước đo của những mục tiêu đó, giá trị chỉ tiêu của các thước đo và các sáng kiến.
Các mục tiêu: Các mục tiêu chính cần phải được thực hiện. Ví dụ như tăng lợi nhuận. Các thước đo: Các thông số có thể quan sát được sẽ được sử dụng để đo lường sự tiến triển trong quá trình hướng tới thực hiện mục tiêu đề ra. Ví dụ mục tiêu tăng lợi nhuận có thể đo lường bằng tốc độ tăng lợi nhuận.
Các chỉ tiêu: Là các giá trị mục tiêu cụ thể của các thước đo. Ví dụ tăng 20% lợi nhuận. Các sáng kiến: Là các chương trình hành động nhằm thực hiện các tiêu chí đề ra để thực hiện được các mục tiêu.