CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN 1.1 KHÁI QUÁT VỀ VẬN ĐƠN ĐƯỜNG BIỂN 1. Quá trình phát triển B/L đã xuất hiện trong trao đổi và vận chuyển hàng hóa đường biển từ nhiều thế kỷ trước đây. Có rất nhiều bài nghiên cứu về lịch sử ra đời của B/L được tiến hành, điều này là quan trọng vì nguồn gốc sơ khai của một chứng từ sẽ giúp chúng ta hiểu rõ về bản chất của nó. Mitcheihill (1990) và McLaughlin (1925) đã chỉ ra điểm tương đồng trong nguồn gốc của B/L sơ khai trong quá khứ.
Họ cho rằng đó là một tờ giấy theo mẫu được sử dụng tương tự như B/L từ thế kỉ 11 của Medieval Italy. Vì không có “mã số hóa” đường biển chính thức nào tồn tại vào thời điểm đó khi hàng hóa được vận chuyển, những cuộc tranh chấp dường như đã hình thành giữa người gửi hàng và thuyền trưởng. Do đó, thuyền trưởng cần được thư ký hỗ trợ công việc ghi sổ hoặc tạo ghi chép về việc nhận hàng hóa từ người gửi hàng. Đó được coi là tài liệu sơ khai nhất để giữ ghi chú hàng hóa đã được xếp lên tàu.
Đây được xem là bằng chứng của việc chuyên chở là “sổ vận đơn” chứ không phải B/L như hiện tại. Khi những thương lái ngừng việc ra khơi cùng với hàng hóa của họ, họ đã yêu cầu một biên lai nhận hàng phát hành từ người chủ tàu, một bản phô tô có liên quan của bản vào “số vận đơn”. Bản phô tô đó đã trở thành B/L.Murray và Mitcheihilll cho rằng mãi đến thế kỉ thứ 16 thì B/L mới trở nên có giá trị pháp lý và được sử dụng rộng rãi. B/L được tìm thấy bản gần giống như với bản ở thời điểm hiện tại.
Trong số mười một vận đơn được tìm thấy ở Seldon Society Publications vào thế kỉ 16, tám bản trong số đó có thể nhận ra là B/L hiện đại. Câu cuối cùng của chúng bắt đầu với “In witness of the truth”, “In witness whereof” hoặc “And for the testimony of the truth”, những câu này được lặp đi lặp lại trong B/L về tình trạng hàng hóa được gửi trở nên cụ thể hơn: nó phải bao gồm những thông tin về số lượng hàng hóa, ký mã hiệu hàng hóa, tình trạng hàng hóa, tên của người nhận hàng và số lượng vận chuyển. Samantha đã thực hiện luận văn “Sự phát triển của Vận đơn đường biển: tương lai của ngành hàng hải” đề cấp tới không chỉ lịch sử ra đời của B/L từ những ngày đầu mà còn đề cập tới sự phát triển của nó trong sự thay đổi môi trường 7 kinh doanh. Tác giả đã chỉ ra sự phát triển trong việc sử dụng B/L không thể chuyển nhượng và những loại B/L đặc biệt khác cho thấy rằng những loại chứng từ khác nhau được sử dụng cho những mục đích khác nhau.
Vì vậy, việc B/L sẽ thay đổi trong tương lai khi có nhu cầu, yêu cầu là không có gì nghi ngờ, đó chính là bản chất của loại chứng từ này. Khái niệm Vận đơn đường biển (Bill of lading - B/L) là chứng từ vận tải bằng đường biển do người có chức năng phát hành cho người gửi hàng sau khi hàng được bốc lên tàu hoặc sau khi hàng được nhận để xếp. Từ khái niệm có thể rút ra vận đơn đường biển có một số đặc điểm sau: Một là, khi nói đến B/L thì việc chuyên chở hàng hóa bằng đường biển bắt buộc diễn ra. Hai là, chứng từ vận tải có nhiều loại khác nhau và chức năng của từng loại chứng từ vận tải cũng khác nhau, vận đơn đường biển là chứng từ vận tải duy nhất có chứng năng là chứng từ sở hữu hàng hóa.
Ba là, thời điểm cấp B/L có thể diễn ra sau khi hàng hóa được bốc lên tàu hoặc sau khi hàng hóa được nhận để chở. Thời điểm phát hành B/L có ý nghĩa quan trọng trong thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế. Vận đơn đường là căn cứ để ràng buộc trách nhiệm về chuyên chở hàng hóa và trách nhiệm về hàng hóa của người chuyên chở. Đồng thời, nó cũng là bằng chứng của việc người XK cho người NK và căn cứ để xác định thời điểm hoàn thành nghĩa vụ giao hàng của nhà XK.
Chức năng B/L là chứng từ vận tải được sử dụng nhiều nhất đối với hàng hóa xuất nhập khẩu bởi hàng hóa chủ yếu được vận chuyển bằng đường biển và nó là chứng từ quan trọng nhất trong bộ chứng từ thanh toán, vận đơn có 3 chức năng chính sau: - Vận đơn là bằng chứng về việc người vận chuyển đã nhận hàng lên tàu hàng hóa với số lượng, chủng loại, tình trạng như ghi rõ trong vận đơn để vận chuyển đến nơi đến. Thực hiện chứng năng này, vận đơn là biên lai nhận hàng của người chuyên chở cấp cho người xếp hàng. Nếu không có ghi chú thì những hàng hóa ghi trong đó được thừa nhận có “Tình trạng hàng hóa thích hợp”. Điều này cũng có nghĩa là người gửi hàng đã giao cho người nhận hàng thông qua người chuyên chở và người chuyên 8 chở nhận hàng như thế nào thì phải giao cho người xuất trình vận đơn gốc một cách hợp pháp như đã ghi trên vận đơn ở cảng dỡ.
- Vận đơn là bằng chứng xác nhận hợp đồng chuyên chở hàng hóa bằng đường biển đã được ký kết. Trong trường hợp thuê tàu chuyến trước khi cấp vận đơn, người thuê tàu và người cho thuê tàu đã ký kết với nhau một hợp đồng thuê tàu chuyến. Khi hàng hóa được xếp hay được nhận để xếp, người chuyên chở cấp cho người gửi hàng vận đơn đường biển. Vận đơn được cấp xác nhận hợp đồng vận tải được ký kết.
Trong trường hợp thuê tàu chợ thì không có sự ký kết trước một hợp đồng thuê tàu như thuê tàu chuyến mà chỉ có sự cam kết sẽ dành chỗ xếp hàng cho người thuê tàu. Sự cam kết này được ghi thành một văn bản, gọi là giấy lưu cước - Booking note. Do đó, vận đơn được cấp là bằng chứng duy nhất xác nhận hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển được ký kết. Nội dung của vận đơn là cơ sở pháp lý để giải quyết mọi tranh chấp xảy ra sau này giữa người phát hành và người cầm giữ vận đơn.
- Vận đơn gốc là chứng từ có giá trị, dùng để định đoạt và nhận hàng hay vận đơn là chứng từ xác nhận quyền sở hữu hàng hóa được ghi trên vận đơn. Vì vậy, vận đơn có thể mua bán, chuyển nhượng được. Việc mua bán, chuyển nhượng có thể được thực hiện nhiều lần trước khi giao hàng. Mỗi lần chuyển nhượng như vậy, người cầm vận đơn gốc trong tay là chủ của hàng hóa ghi trên vận đơn, có quyền đòi người chuyên chở giao hàng cho mình theo điều kiện đã quy định trong vận đơn tại cảng đích.
Điểm cần chú ý là, vì chỉ cần xuất trình một bản gốc vận đơn là có quyền nhận hàng tại cảng đích, trong khi đó B/L là thường được phát trọn bộ ba bản gốc hoặc sáu bản gốc. Chính vì vậy, khi mua bán B/L, người mua cần phải bảo đảm quyền kiểm soát trọn bộ B/L tuyệt đối như đã phát hành. Tương tự, đối với PTTT tín dụng chứng từ, NH cần quy định xuất trình trọn bộ B/L gốc. Ngoài ra, các ngân hàng thương mại khi tham gia vào phương thức thanh toán L/C thường tận dụng chứng năng thứ ba của B/L để khống chế vận đơn, kiểm soát hàng hóa và chỉ giao B/L cho người nhập khẩu khi họ thanh toán bộ chứng từ xuất trình đòi tiền.
Tác dụng của vận đơn đường biển - Vận đơn là cơ sở pháp lý để điều chỉnh mối quan hệ giữa người xếp hàng, nhận hàng và người chuyên chở. - Vận đơn là căn cứ để nhận hàng và xác định số lượng hàng hóa người bán gửi cho người mua và dựa vào đó để ghi sổ, thống kê và ghi sổ xem người bán hay người chuyên chở đã hoặc không hoàn thiện trách nhiệm của mình như đã quy định trong hợp đồng mua bán ngoại thương- vận đơn đường biển. - Vận đơn cùng các chứng từ khác của hàng hóa lập thành bộ chứng từ thanh toán tiền hàng. - Vận đơn là chứng từ quan trọng trong bộ chứng từ khiếu nại người bảo hiểm hay những người khác có liên quan.
- Vận đơn còn được sử dụng làm chứng từ để cầm cố, mua bán, chuyển nhượng hàng hóa trên vận đơn. Phạm vi sử dụng của vận đơn đường biển Thứ nhất, đối với người gửi hàng (nhà XK): B/L là bằng chứng giao hàng hóa cho người mua, chứng minh rằng người gửi hàng đã hoàn thành hết trách nhiệm của mình theo hợp đồng thương mại và theo yêu cầu của phương thức thanh toán đặc biệt là tín dụng nhờ thu. Sau khi giao hàng, nhận được B/L, người XK thông báo cho người NK đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, đồng thời tiến hành lập bộ chứng từ thanh toán. Thứ hai, đối với người nhận hàng ( người NK): B/L gốc được dùng làm chứng từ nhận hàng nên nhà nhập khẩu phải có B/L gốc và là người xuất trình chứng từ đầu tiên cho người chuyên chở thì mới nhận được hàng.
Khi một B/L gốc đã được xuất trình để nhận hàng thì tất cả vận đơn còn lại không còn giá trị nhận hàng nữa. Khi nhận hàng, người NK phải căn cứ vào chủng loại, số lượng và tình trạng hàng hóa ghi trên vận đơn để đối chiếu việc giao hàng của người chuyên chở; đồng thời đối chiếu, theo dõi việc thực hiện hợp đồng của người XK. Vì là chứng từ sở hữu hàng hóa, do đó B/L có giá trị như giấy tờ có giá, chuyển nhượng được, mua bán và cầm cố được. Thứ ba, đối với người chuyên chở: Người chuyên chở chỉ có trách nhiệm giao hàng cho ai xuất trình được B/L gốc hợp pháp đầu tiên, và chỉ giao hàng như ghi trên 10 vận đơn.
Sau khi giao hàng và thu hồi được B/L gốc, người chuyên chở được chứng minh là đã hoàn thành trách nhiệm về việc chuyên chở hàng hóa. Ngoài ra, khi có tranh chấp với người chuyên chở về hàng hóa, B/L được dùng để yêu cầu người chuyên chở bồi thường. Thứ tư, tùy trường hợp mà B/L được sử dụng vào các mục đích khác nhau như là một chứng từ quan trọng để các bên có liên quan đến B/L khiếu nại lẫn nhau khi tranh chấp phát sinh. Vì giữa bảo hiểm đơn và B/L có chung một số thông tin như con tàu, hành trình chuyên chở, cảng bốc, cảng dỡ,.
nên khi có khiếu nại về bảo hiểm hàng hóa thì B/L gốc cần phải được xuất trình.