CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG TÀI SẢN NGẮN HẠN TRONG DOANH NGHIỆP 1. Khái quát về tài sản của doanh nghiệp 1. Khái niệm về tài sản của doanh nghiệp “Tài sản của doanh nghiệp là tất cả các nguồn lực có thực, thể hiện dưới dạng hữu hình hoặc vô hình, gồm các vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, có khả năng mang lại lợi ích kinh tế tương lai cho doanh nghiệp đó.” (Nguồn Nguyễn Đình Kiệm và Bạch Đức Hiển (2012), Giáo trình tài chính doanh nghiệp.
Phân loại tài sản của doanh nghiệp Tài sản của doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: - Phân loại theo tính chất: • Tài sản cố định: Bao gồm các tài sản dùng để sử dụng lâu dài trong hoạt động sản xuất kinh doanh như tài sản vô hình (như bằng sáng chế, thương hiệu), tài sản vật chất (như nhà xưởng, máy móc, thiết bị) và tài sản đất đai. • Tài sản lưu động: Bao gồm các tài sản có tính chất lưu động, dễ dàng chuyển đổi thành tiền mặt trong thời gian ngắn như hàng tồn kho, tiền mặt, khoản đầu tư ngắn hạn và các khoản phải thu. - Phân loại theo tính chất chủ quyền: • Tài sản sở hữu: Bao gồm các tài sản mà doanh nghiệp sở hữu một cách trực tiếp như tài sản cố định và tài sản lưu động. • Tài sản thuê/cho thuê: Bao gồm các tài sản mà doanh nghiệp thuê hoặc cho thuê từ bên thứ ba như máy móc, thiết bị hoặc nhà xưởng.
Căn cứ vào thời gian đầu tư, sử dụng và thu hồi, toàn bộ tài sản trong một doanh nghiệp được chia thành hai loại là tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn. Tài sản ngắn hạn Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp là những tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, có thời hạn sử dụng, luân chuyển, thu hồi vốn trong vòng không quá 12 tháng hoặc một chu kỳ kinh doanh. Tài sản ngắn hạn được phân bố đủ trong tất cả các khâu, các công đoạn nhằm đảm bảo cho quá trình kinh doanh được diễn ra liên tục, ổn định tránh lãng phí và tổn thất tài sản do ngừng sản xuất, không làm ảnh hưởng đến khả năng thanh toán và đảm bảo khả năng sinh lời của tài sản. Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể tồn tại dưới hình thức tiền tệ, hiện vật (vật tư, hàng hóa) dưới dạng đầu tư ngắn hạn và các khoản nợ phải thu ngắn hạn.
Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp bao gồm 1 vốn bằng tiền, các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn, các khoản phải thu, hàng tồn kho, tài sản ngắn hạn khác. Tiền và các khoản tương đương tiền như tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tiền đang chuyển, chứng khoán dễ thanh khoản. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn như cổ phiếu, trái phiếu. Các khoản phải thu ngắn hạn như phải thu của khách hàng, phải thu về việc trả trước cho người bán, phải thu nội bộ.
Hàng tồn kho bao gồm nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ, thành phẩm, hàng gửi bán, hàng mua đang đi đường.Các tài sản ngắn hạn thường tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh và được thu hồi vốn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh. Các khoản đầu tư tài chính ngắn hạn: bao gồm các khoản đầu tư chứng khoán có thời hạn thu hồi dưới một năm hoặc trong một chu kỳ kinh doanh (như: tín phiếu kho bạc, kỳ phiếu ngân hàng,…) hoặc chứng khoán mua vào bán ra (cổ phiếu, trái phiếu) để kiếm lời và các loại đầu tư tài chính khác không quá một năm. Các khoản phải thu ngắn hạn: Là các khoản phải thu ngắn hạn của khách hàng, phải thu nội bộ ngắn hạn và các khoản phải thu ngắn hạn khác có thời hạn thu hồi hoặc thanh khoản dưới một năm. Tài sản ngắn hạn khác: Bao gồm chi phí trả trước ngắn hạn, thuế GTGT được khấu trừ, thuế và các khoản khác phải thu Nhà nước, tài sản ngắn hạn khác.
TSNH của doanh nghiệp thường được phân bổ ở khắp giai đoạn của quá trình sản xuất thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Do vậy để nâng cao hiệu quả kinh doanh cần phải thường xuyên phân tích từ đó đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng tài sản ngắn hạn. Tài sản dài hạn Tài sản dài hạn là những tài sản thường có giá trị lớn và thời gian sử dụng dài, thời gian sử dụng thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau 12 tháng kể từ khi kết thúc năm kế toán được coi là TSDH.
Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán sau 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là TSDH. Tài sản dài hạn của doanh nghiệp bao gồm: Các khoản phải thu dài hạn, tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn và các khoản phải thu dài hạn khác. Trong đó các khoản phải thu dài hạn trong tài sản dài hạn của doanh nghiệp bao gồm những khoản tiền mà doanh nghiệp dự kiến thu được sau một chu kỳ kinh doanh kéo dài hơn 12 tháng hoặc sau khi kết thúc năm kế toán. 2 Thư viện ĐH Thăng Long − Các khoản phải thu của khách hàng: Đây là số tiền mà khách hàng đang nợ doanh nghiệp trong một thời gian dài hơn 12 tháng.
Điều này thường xảy ra khi doanh nghiệp cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ cho khách hàng và cho phép họ thanh toán sau một thời gian nhất định. − Các khoản phải thu nội bộ: Đây là những khoản tiền mà doanh nghiệp nợ các đơn vị nội bộ khác, ví dụ như các khoản nợ từ các bộ phận trong công ty hoặc các chi nhánh khác. Các khoản nợ này thường có thời gian thu hồi dài hạn, vì vậy chúng được xem là tài sản dài hạn. − Các khoản phải thu từ quỹ đầu tư: Đây là những khoản tiền mà doanh nghiệp đầu tư vào các công ty con, liên kết hoặc các quỹ đầu tư khác.
Thông thường, việc thu hồi vốn từ các khoản đầu tư này sẽ mất thời gian, và do đó chúng được xem là tài sản dài hạn. − Các khoản phải thu khác dài hạn: Bên cạnh các khoản phải thu từ khách hàng, nội bộ và quỹ đầu tư, còn có thể có các khoản phải thu khác mà doanh nghiệp dự kiến thu được sau một chu kỳ kinh doanh kéo dài hơn 12 tháng. Ví dụ, đó có thể là khoản nợ từ các hợp đồng dài hạn, các khoản vay cho công ty con, hoặc các khoản phải thu từ các tổ chức tài chính. Tài sản cố định, bất động sản đầu tư, các khoản đầu tư tài chính dài hạn như đầu tư vào công ty con, công ty liên kết, liên doanh, đầu tư chứng khoán.
Khái quát về tài sản ngắn hạn 1. Khái niệm “Tài sản ngắn hạn đó là các tài sản có thời gian thu hồi vốn ngắn, thời gian thu hồi phụ thuộc vào chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh bình thường trong vòng 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 12 tháng kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là tài sản ngắn hạn. Đối với doanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh dài hơn 12 tháng thì những tài sản có khả năng thu hồi vốn hay thanh toán trước 1 chu kỳ kinh doanh kể từ khi kết thúc kế toán năm được coi là tài sản ngắn hạn”.Lê Văn Tâm, PGS.
Ngô Kim Thanh. Giáo trình quản trị doanh nghiệp, phần 2. Đại học Kinh tế quốc dân) 1. Đặc điểm Đặc điểm của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp như sau: Tài sản ngắn hạn không ngừng vận động qua các giai đoạn của chu kì kinh doanh, TSNH tham gia vào tát cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, do đó để đáp ứng tốt yêu cầu của từng khâu trong quy trình hoạt động của doanh nghiệp TSNH luôn vận động không ngừng và biến đổi qua nhiều hình thái khác nhau.
3 Bên cạnh đó, TSNH lưu chuyển nhanh, TSNH hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kì sản xuất. Trong quá trình đó TSNH chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa được thực hiện và TSNH được thu hồi. Đây cũng chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa TSNH và TSCĐ. TSCĐ chuyển dần giá trị của nó vào sản phẩm thông qua mức khấu hao, còn TSNH thì chuyển toàn bộ giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo chu kì sản xuất, kinh doanh.
Tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển hóa từ dạng vật chất sang tiền tệ nên đáp ứng được khả năng thanh toán của doanh nghiệp trong thời gian ngắn mà không chịu chi phí lớn. Chính bởi việc nhanh chóng chuyển đổi nên tính thanh khoản của TSNH là rất cao. Mặc dù TSNH lệ thuộc khá nhiều vào nhưng giao động manh tính chất mùa vụ và chu kì trong kinh doanh. Đối với những doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các ngành nghề khác nhau thì lượng TSNH cần thiết tại mỗi thời điểm khác nhau.
Có nhiều loại doanh nghiệp cần nguồn TSNH lớn vào đầu chu kì và ngược lại. Những loại mặt hàng, loại hình kinh doanh như bất động sản, dệt may, du lịch còn mang tính chất mùa vụ tùy theo mùa theo quý trong năm mà hoạt động sản xuất kinh doanh cũng biến động, do đó TSNH cũng biến động theo. Phân loại tài sản ngắn hạn Trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và quản lý tài chính nói riêng, tùy theo yêu cầu quản lý và dựa trên tính chất vận động của TSNH, có thể phân loại tài sản ngắn hạn như sau: 1. Phân loại theo vai trò của tài sản ngắn hạn trong quá trình sản xuẩt kinh doanh Tài sản ngắn hạn của doanh nghiệp có thể được phân thành ba bộ phận chính, bao gồm tài sản ngắn hạn trong khâu dự trữ, tài sản ngắn hạn sản xuất và tài sản ngắn hạn lưu thông.
Việc phân loại này giúp doanh nghiệp hiểu cấu trúc của tài sản ngắn hạn trong doanh nghiệp một cách rõ ràng hơn.