Tổng quan nghiên cứu

Thị trường lao động tại khu vực nông thôn Việt Nam đang trải qua quá trình chuyển dịch mạnh mẽ dưới tác động của công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên, tính đến năm 2014, quy mô dân số đạt 146.086 người với mật độ trung bình 586 người/km2. Lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm khoảng 80.000 người, trong đó số lao động thanh niên từ 16 đến 30 tuổi đạt khoảng 27.000 người. Đáng chú ý, tỷ trọng lao động nông nghiệp chiếm tới 78% tổng số lao động toàn huyện (tương đương 67.500 người), trong khi tỷ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật toàn tỉnh Thái Nguyên năm 2014 chỉ đạt 25,5%.

Thực trạng này đặt ra vấn đề nghiên cứu cấp bách: nguồn lao động trẻ dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, thiếu kinh nghiệm phi nông nghiệp, trong khi các khu công nghiệp lớn như KCN Điềm Thụy và KCN Samsung Phổ Yên lân cận đang tạo ra làn sóng chuyển dịch việc làm quy mô lớn.

Mục tiêu nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng việc làm, phân tích động thái chuyển dịch cơ cấu ngành nghề, xác định các yếu tố nhân khẩu - xã hội và cơ chế chính sách tác động đến việc làm của thanh niên.

Phạm vi không gian nghiên cứu được triển khai tại xã Đào Xá (đại diện cho khu vực thuần nông) và thị trấn Hương Sơn (đại diện cho trung tâm kinh tế - đô thị hóa của huyện), trong khung thời gian từ tháng 01/2015 đến tháng 07/2015.

Nghiên cứu mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc: không chỉ củng cố hệ thống lý thuyết xã hội học về lao động - việc làm trong bối cảnh chuyển dịch nông thôn, mà còn cung cấp cơ sở dữ liệu thực nghiệm giúp chính quyền địa phương hoàn thiện các chính sách an sinh, nâng cao hiệu quả giải quyết việc làm cho hơn 2.700 lao động được đào tạo nghề hàng năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng hai hệ thống lý thuyết xã hội học nền tảng nhằm giải mã bản chất các hành vi lựa chọn nghề nghiệp của thanh niên nông thôn:

  • Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber và Talcott Parsons: Weber phân loại hành động xã hội thành 4 nhóm: duy lý công cụ (tính toán chi phí - lợi ích để đạt mục tiêu kinh tế), duy lý giá trị (hướng đến chuẩn mực, danh tiếng), duy lý truyền thống (kế thừa nghề gia đình), và duy cảm (ảnh hưởng bởi cảm xúc, kỳ vọng của cha mẹ). Mô hình của Talcott Parsons bổ sung góc nhìn về hệ thống tác nhân - tình huống, chỉ ra rằng quyết định tìm kiếm việc làm của thanh niên là sự tương tác giữa động cơ cá nhân, định chế gia đình và điều kiện kinh tế - xã hội địa phương.
  • Lý thuyết tháp nhu cầu của Abraham Maslow: Hệ thống 5 bậc nhu cầu (nhu cầu sinh học, an toàn, xã hội, tôn trọng, và tự khẳng định) lý giải tiến trình ưu tiên của lao động trẻ: trước hết cần việc làm để tạo thu nhập sinh tồn và bảo đảm an toàn cuộc sống, sau đó mới tiến tới yêu cầu về môi trường làm việc, vị thế xã hội và phát triển năng lực cá nhân.

Các khái niệm nòng cốt trong nghiên cứu bao gồm: Thanh niên (công dân từ đủ 16 đến 30 tuổi theo Luật Thanh niên 2005); Việc làm (mọi hoạt động lao động hợp pháp tạo ra thu nhập theo Bộ luật Lao động); Nghề nghiệp (công việc chuyên môn ổn định đòi hỏi kỹ năng); và Định hướng nghề nghiệp (quá trình xác định mục tiêu và lộ trình phát triển nghề nghiệp dựa trên năng lực và điều kiện thực tế).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa phương pháp định lượng và định tính nhằm đảm bảo tính khách quan và chiều sâu thông tin:

  • Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi: Cỡ mẫu khảo sát gồm 156 thanh niên được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên tại xã Đào Xá và thị trấn Hương Sơn. Mẫu được phân bổ đại diện theo giới tính (50,6% nam, 49,4% nữ), ba nhóm tuổi (16 đến dưới 21 tuổi chiếm 33,4%; 21 đến dưới 25 tuổi chiếm 28,2%; 25 đến 30 tuổi chiếm 38,4%) và tình trạng hôn nhân (34,0% độc thân, 66,0% đã kết hôn). Phương pháp này giúp đo lường chính xác các chỉ báo về thu nhập, học vấn, thời gian làm việc và mức độ hài lòng.
  • Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn trực tiếp 16 người cung cấp thông tin then chốt (gồm 4 thanh niên có việc làm, 5 thanh niên chưa có việc làm, 2 phụ huynh, 2 lãnh đạo UBND cấp xã/thị trấn, 1 cán bộ Phòng LĐTB&XH huyện Phú Bình và 2 Bí thư Đoàn Thanh niên cơ sở). Kỹ thuật này giúp phát hiện các rào cản vô hình, kỳ vọng cá nhân và động lực chuyển dịch nghề nghiệp mà bảng hỏi chưa thể hiện hết.
  • Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Thu thập và xử lý số liệu từ Báo cáo kinh tế - xã hội huyện Phú Bình (2012-2014), Niên giám thống kê tỉnh Thái Nguyên năm 2014 và các báo cáo chuyên đề của ngành Lao động - Thương binh và Xã hội. Thời gian thu thập và xử lý dữ liệu diễn ra từ tháng 01/2015 đến tháng 07/2015.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực nghiệm trên 156 thanh niên huyện Phú Bình làm sáng tỏ các chỉ số nổi bật về thị trường lao động nông thôn:

  • Tình trạng việc làm và tính bấp bênh: Tỷ lệ thanh niên có việc làm đạt 71,1%, tuy nhiên chỉ có 36,5% sở hữu công việc ổn định lâu dài; 34,6% đang làm các công việc thời vụ, thiếu ổn định; và 28,9% hoàn toàn chưa có việc làm hoặc đang trong tình trạng thất nghiệp tạm thời.
  • Cơ cấu khu vực làm việc: Thanh niên tham gia làm việc tại các công ty tư nhân chiếm tỷ trọng cao nhất với 31,6%; khu vực kinh tế hộ gia đình chiếm 19,8%; khu vực hành chính sự nghiệp nhà nước chiếm 18,9%; các doanh nghiệp liên doanh chiếm 16,2%; và doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 13,5%.
  • Thời gian lao động và cường độ làm việc: Có tới 58,5% thanh niên phải làm việc vượt quá 8 giờ/ngày. Cụ thể, nhóm làm việc từ 8-10 giờ/ngày chiếm 26,1%; từ 10-12 giờ/ngày chiếm 25,3%; và 7,2% phải làm việc trên 12 giờ/ngày. Chỉ có 19,8% làm việc đúng khung chuẩn 8 giờ/ngày và 21,6% làm việc dưới 8 giờ/ngày (chủ yếu là lao động bán thời gian hoặc nông nghiệp thời vụ).
  • Trình độ học vấn và sự mất cân đối chuyên môn: Về học vấn, 34,0% thanh niên tốt nghiệp THPT, 24,4% có trình độ Đại học/Cao đẳng, 17,3% tốt nghiệp THCN/dạy nghề, 15,4% đạt trình độ THCS, 5,1% sau đại học và 3,8% tốt nghiệp tiểu học. Mặc dù tỷ lệ có bằng cấp khá cao, song tình trạng làm việc trái ngành diễn ra phổ biến; nhiều cử nhân, kỹ sư buộc phải làm công nhân lắp ráp giản đơn tại các nhà máy do thiếu kỹ năng thực hành và hạn chế về vốn xã hội.

Thảo luận kết quả

Thực trạng việc làm của thanh niên Phú Bình phản ánh sâu sắc quá trình tái cơ cấu kinh tế địa phương. Sự xuất hiện của các khu công nghiệp lớn như Điềm Thụy và tổ hợp Samsung Thái Nguyên đã tạo ra lực hút mạnh mẽ, kéo thanh niên rời khỏi khu vực nông nghiệp truyền thống (vốn có thu nhập thấp và chịu nhiều rủi ro thời tiết).

Tuy nhiên, động thái này chủ yếu mang tính duy lý công cụ: thanh niên chấp nhận làm việc tăng ca với thời lượng 10-12 giờ/ngày để đạt mức thu nhập trước mắt, chấp nhận đánh đổi sự an toàn lâu dài và cơ hội nâng cao tay nghề chuyên môn. Khi so sánh với nghiên cứu năm 2013 của Nguyễn Đức Hoàn về lao động tự do nông thôn di cư ra đô thị (nơi 69% lao động làm việc trên 8 giờ/ngày và 57,3% làm việc trên đường phố), thanh niên Phú Bình có điều kiện làm việc trong nhà xưởng tốt hơn nhưng mức độ bấp bênh về hợp đồng và áp lực thời gian làm việc vẫn ở mức cao tương đương.

Bên cạnh đó, kết quả nghiên cứu cũng tương đồng với các phát hiện của Trần Thị Dừa về vai trò định hướng của gia đình nông thôn: phụ huynh vẫn đặt nặng kỳ vọng con em vào làm việc tại các cơ quan nhà nước (18,9% thực tế tham gia so với tỷ lệ mong muốn cao hơn nhiều), tạo ra khoảng cách lớn giữa tâm lý xã hội và thực tế thị trường lao động.

Các dữ liệu này trong báo cáo nghiên cứu được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ phân bố khu vực làm việc (Biểu đồ 1), bảng phân tích thời gian lao động (Bảng 6), và bảng kiểm định tương quan giữa trình độ học vấn với mức thu nhập (Bảng 11), làm rõ tính phân tầng xã hội sâu sắc giữa các nhóm lao động trẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm giải quyết căn bản bài toán việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ tại huyện Phú Bình, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm khuyến nghị hành động cụ thể:

  • Tái cấu trúc và nâng cao chất lượng đào tạo nghề gắn với nhu cầu doanh nghiệp: Đổi mới chương trình dạy nghề theo hướng thực hành kỹ thuật công nghệ cao, liên kết đào tạo trực tiếp theo đơn đặt hàng của các nhà máy tại KCN Điềm Thụy và KCN lân cận. Mục tiêu nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo của huyện từ 25,5% lên 50% vào năm 2020. Thời gian thực hiện: Triển khai từ Quý II/2016. Chủ thể thực hiện: UBND huyện Phú Bình phối hợp cùng Trung tâm Giáo dục Nghề nghiệp - Giáo dục Thường xuyên và Sở LĐTB&XH tỉnh Thái Nguyên.
  • Thiết lập hệ thống thông tin thị trường lao động và tư vấn hướng nghiệp học đường: Xây dựng định kỳ các sàn giao dịch việc làm lưu động tại các cụm xã; đưa nội dung tư vấn nghề nghiệp vào chương trình chính khóa của các trường THPT và THCS trên địa bàn. Mục tiêu 100% học sinh tốt nghiệp THPT và thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự được tư vấn nghề nghiệp miễn phí. Thời gian thực hiện: Định kỳ hàng quý từ năm 2016. Chủ thể thực hiện: Huyện đoàn Phú Bình phối hợp với Trung tâm Dịch vụ Việc làm tỉnh Thái Nguyên.
  • Tăng cường giám sát thực thi Luật Lao động và bảo vệ quyền lợi người lao động: Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra định kỳ việc chấp hành thời giờ làm việc, an toàn lao động, chế độ bảo hiểm xã hội tại các doanh nghiệp tư nhân và cơ sở gia công trên địa bàn; kéo giảm tỷ lệ lao động làm việc quá 10-12 giờ/ngày từ mức 32,5% xuống dưới 10%. Thời gian thực hiện: Bắt đầu từ Quý I/2016. Chủ thể thực hiện: Phòng LĐTB&XH huyện Phú Bình phối hợp với Liên đoàn Lao động huyện.
  • Hỗ trợ vốn tín dụng ưu đãi và khuyến khích thanh niên khởi nghiệp tại địa phương: Triển khai các gói vay ưu đãi phát triển kinh tế trang trại công nghệ cao, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ thương mại. Mục tiêu giải ngân nguồn vốn ủy thác hỗ trợ cho ít nhất 200 mô hình thanh niên khởi nghiệp giai đoạn 2016-2018. Thời gian thực hiện: Giai đoạn 2016-2018. Chủ thể thực hiện: Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phú Bình phối hợp cùng Đoàn Thanh niên các cấp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị tham chiếu thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Nhà quản lý công và các cơ quan hoạch định chính sách địa phương: Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về nguồn lao động trẻ, giúp UBND cấp huyện và các phòng ban chuyên môn xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch đào tạo nghề và chuyển dịch lao động nông thôn sát với thực tiễn.
  • Tổ chức Đoàn Thanh niên và cán bộ công tác xã hội: Cung cấp bức tranh toàn diện về tâm tư, nguyện vọng và khó khăn của thanh niên nông thôn, hỗ trợ thiết kế các phong trào đồng hành cùng thanh niên lập nghiệp, hướng nghiệp hiệu quả.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Xã hội học, Kinh tế lao động: Đóng vai trò là tài liệu tham khảo khoa học mẫu mực về phương pháp chọn mẫu phân tầng trong nghiên cứu xã hội học thực nghiệm, kỹ thuật phỏng vấn sâu và cách vận dụng lý thuyết hành động xã hội vào phân tích thị trường lao động.
  • Doanh nghiệp và các đơn vị tuyển dụng lao động: Giúp các nhà quản trị nhân sự tại các khu công nghiệp nắm bắt đặc điểm nhân khẩu, mức độ kỳ vọng thu nhập và các yếu tố ảnh hưởng đến độ gắn bó công việc của lao động trẻ nông thôn, từ đó xây dựng chính sách đãi ngộ phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

  • Tỷ lệ thanh niên chưa có việc làm hoặc có việc làm bấp bênh tại địa bàn nghiên cứu là bao nhiêu? Theo kết quả khảo sát trên 156 thanh niên tại xã Đào Xá và thị trấn Hương Sơn, có 28,9% thanh niên hoàn toàn chưa có việc làm và 34,6% có việc làm nhưng chưa ổn định (chủ yếu là việc làm thời vụ, tự do). Tỷ lệ thanh niên có việc làm thực sự ổn định chỉ chiếm 36,5%.

  • Khu vực kinh tế nào đang thu hút nhiều lao động thanh niên nhất tại huyện Phú Bình? Khu vực công ty tư nhân dẫn đầu với tỷ lệ thu hút 31,6% lao động thanh niên, tiếp theo là kinh tế hộ gia đình (19,8%), các cơ quan hành chính nhà nước (18,9%), doanh nghiệp liên doanh (16,2%), và các doanh nghiệp FDI (13,5%).

  • Thực trạng thời gian làm việc của thanh niên tại các doanh nghiệp hiện nay ra sao? Có tới 58,5% thanh niên tham gia khảo sát phải làm việc trên 8 giờ/ngày. Trong đó, nhóm làm việc từ 8-10 giờ/ngày chiếm 26,1%, từ 10-12 giờ/ngày chiếm 25,3%, và 7,2% phải làm việc trên 12 giờ/ngày, cho thấy tình trạng tăng ca quá mức diễn ra khá phổ biến.

  • Trình độ học vấn của thanh niên ảnh hưởng như thế nào đến việc tìm kiếm việc làm? Mặc dù có 24,4% thanh niên đạt trình độ Đại học/Cao đẳng và 17,3% có trình độ THCN/nghề, song sự thiếu hụt kỹ năng thực hành và thông tin tuyển dụng khiến nhiều cử nhân phải làm công nhân phổ thông, phản ánh sự mất cân đối rõ nét giữa cung và cầu lao động.

  • Lý thuyết xã hội học nào được ứng dụng chính để giải thích hành vi chọn nghề của thanh niên? Nghiên cứu ứng dụng lý thuyết hành động xã hội của Max Weber (đặc biệt là hành động duy lý công cụ và duy lý giá trị) kết hợp với lý thuyết tháp nhu cầu của Abraham Maslow nhằm phân tích động cơ tìm việc từ đáp ứng nhu cầu thu nhập trước mắt đến khẳng định vị thế bản thân.

Kết luận

  • Bức tranh việc làm của thanh niên huyện Phú Bình mang tính thời sự cao, phản ánh rõ nét sự chuyển biến từ nền kinh tế thuần nông sang công nghiệp hóa với 71,1% thanh niên có việc làm nhưng còn tới 34,6% bấp bênh.
  • Lực lượng lao động trẻ tại địa phương có trình độ học vấn khá tốt (58,4% từ THPT trở lên, trong đó 24,4% tốt nghiệp Đại học/Cao đẳng) nhưng đang thiếu hụt kỹ năng nghề nghiệp chuyên sâu phù hợp với nhu cầu khu công nghiệp.
  • Tình trạng làm việc quá giờ quy định diễn ra phổ biến với 58,5% lao động làm việc trên 8 giờ/ngày, đòi hỏi sự can thiệp và giám sát chặt chẽ từ các cơ quan quản lý lao động.
  • Nghiên cứu đã vận dụng thành công lý thuyết hành động xã hội và tháp nhu cầu để làm sáng tỏ các động cơ chọn nghề mang tính duy lý công cụ của thanh niên nông thôn.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp đồng bộ về đào tạo nghề, thông tin thị trường, thanh tra lao động và tín dụng ưu đãi mở ra lộ trình khả thi cho giai đoạn 2016-2020.

Đóng góp lớn nhất của công trình là cung cấp nguồn dữ liệu thực nghiệm chuẩn xác, làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa biến đổi kinh tế và hành vi xã hội của thanh niên nông thôn. Các nhà hoạch định chính sách, giảng viên và học viên quan tâm có thể khai thác trực tiếp luận văn này để phát triển các chương trình hỗ trợ lao động trẻ và thúc đẩy an sinh xã hội bền vững tại các địa phương đang đô thị hóa.