Chương 1 điều 4: Cán bộ, công chức 2. Cơ sở thực tiễn 2. Tình hình phát triển nông nghiệp của một số nước trên thế giới 2. Nông nghiệp hiện đại của nước Úc Australia có diện tích tự nhiên 769 triệu ha (7.024 km2, rộng gấp 23 lần Việt Nam.
Tuy có đến gần 2/3 diện tích (436 triệu ha) là đất có thể canh tác, nhưng Australia chỉ sử dụng có 46 triệu ha, gồm 18 triệu ha trồng c 13 trọt và 28 ha đồng cỏ. Kinh tế Australia là một nền kinh tế thị trường thịnh vượng, phát triển theo mô hình kinh tế phương Tây, chi phối bởi ngành dịch vụ (chiếm 68% GDP), sau đó là nông nghiệp và khai thác mỏ (chiếm 29. Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, Australia là nước xuất khẩu chính các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là ngũ cốc và len, các khoáng sản, gồm nhiều kim loại, than đá và khí gas thiên nhiên. Với lịch sử non trẻ chỉ hơn 100 năm, với hơn 100 dân tộc đa văn hóa, nước Úc giờ đã trở thành một đất nước giàu mạnh, xây dựng được một nơi có đời sống tốt nhất thế giới, xuất khẩu hầu hết các mặt hàng quan trọng kể cả dịch vụ giáo dục.
Với mục tiêu ban đầu là tự đảm bảo nguồn lương thực cho người dân Úc, Chính phủ đã thực sự đầu tư vào việc phát triển ngành nông nghiệp Úc cho dù diện tích đất có thể canh tác được của Úc chỉ chiếm 1% tổng diện tích lục địa Úc (tổng diện tích Úc là 768 ha) do chỉ có vùng ven biển là có lượng mưa tương đối tốt. Hiện nước Úc có 18 triệu ha trồng trọt và 28 triệu ha đồng cỏ trong đó chỉ có 4 triệu ha là thực sự có lượng nước đầy đủ. Nông nghiệp: Nông nghiệp ở Australia phát triển theo hướng hiện đại và thậm chí được xem như một ngành công nghiệp. Australia nằm ở nam bán cầu và có các vùng khí hậu đa dạng, từ nhiệt đới đến ôn đới và hàn đới.
Nhờ đó, nông nghiệp Australia có lợi thế trong sản xuất những loại nông sản trái vụ. Vào năm 2004-2005, ngành làm vườn Australia đã xuất khẩu gần 1 tỷ USD, trong đó có khoảng 600 triệu USD rau, quả, trái cây tươi và 290 triệu USD rau, quả chế biến. Cũng trong năm đó, Australia nhập khẩu 272 triệu USD rau, quả tươi và 648 triệu USD rau, quả chế biến. Các mặt hàng rau, quả tươi nhập khẩu của Australia mà Việt Nam có thể tham khảo là trái bơ, bưởi, tỏi, tiêu, hạt điều và hoa tươi.
Đối với mặt hàng chế biến, Australia nhập khẩu các loại nước trái cây như nước cam, ngô, đậu Hà Lan đông lạnh, các loại mứt trái cây và một số trái cây khô như nho khô, trái mơ khô. c 14 Lực lượng lao động chính thức trong lĩnh vực nông nghiệp của Australia là 420.000 người, chiếm 4% lực lượng lao động của toàn nước Australia (vào khoảng 10 triệu người) nhưng nước Australia có chỉ số tự cung cao nhất thế giới (nông nghiệp Mỹ có kim ngạch xuất khẩu nông sản đứng đầu thế giới nhưng chỉ số tự cung tự cấp lại thấp hơn Úc), cụ thể là tính trung bình một nông dân Australia có thể nuôi 190 người. Sản phẩm nông nghiệp chính của Australia là lúa mì, lúa mạch, mía, hoa quả, gia súc, cừu, gia cầm. “Nền nông nghiệp Australia cung cấp nông sản đầy đủ cho thị trường nội địa và xuất khẩu 80% tổng sản lượng, thu nhập của mỗi người nông dân Australia lên đến 100.000 USD/ năm, cao hơn so với GDP bình quân đầu người của Úc (60.
Giá trị nông sản của Australia đạt khoảng 25 tỷ USD /năm, chiếm khoảng 3,8% giá trị tổng sản lượng quốc gia, trong đó xuất khẩu đạt 18-20 tỷ USD, chiếm 75-80% tổng sản lượng nông sản. Ngành làm vườn hay có thể gọi là ngành sản xuất rau, hoa quả của Australia gồm sản xuất rau, hoa, quả, hạt (hạt dẻ, hạt macadamia…) và vườn ươm có giá trị sản lượng khoảng 5, 3 tỷ USD vào năm 2005-2006. Đây là một ngành không những có giá trị kinh tế lớn, mà còn giữ một vị trí xã hội đặc biệt quan trọng vì sử dụng nhiều lao động nhất, sử dụng tài nguyên thiên nhiên hiệu quả nhất và có nhiều cơ hội xuất khẩu nhất. Sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi của Australia rất phong phú về chủng loại.
Chỉ 20% sản lượng được tiêu thụ trong nước, còn lại đáp ứng cho nhu cầu xuất khẩu. Australia là quốc gia có tiếng nói mạnh mẽ ủng hộ tự do thương mại trong lĩnh vực nông nghiệp. Trợ cấp nông nghiệp của nước này gần như không đáng kể, mặc dù vẫn có bảo hộ trong một số “trường hợp ngoại lệ” như khi xảy ra hạn hán. Nền nông nghiệp Australia phải đối mặt với một số thách thức như: vấn đề bảo vệ nguồn nước để chống hạn hán, chống nhiễm mặn đất và cuộc tranh c 15 cãi xung quanh việc phát triển thực phẩm biến đổi gen.
Ở thị trường trong nước, các doanh nghiệp kinh doanh nông phẩm phải cạnh tranh gay gắt để giành cơ hội xuất khẩu. Australia là một trong số rất ít quốc gia trên thế giới xuất khẩu thuốc phiện hợp phát để làm dược phẩm. Rượu, thịt bò, lông cừu là những sản phẩm nổi tiếng của thị trường này.2 Tổng quan về nông nghiệp Ấn Độ Là một nước ở Châu Á giai đoạn đầu thực hiện phát triển kinh tế xã hội đất nước không mấy thành công. Họ tiến hành công nghiệp hoá theo mô hình thay thế nhập khẩu, xây dựng các ngành then chốt ở các khu đô thị.
Nền nông nghiệp không được chú ý nên luôn ở tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Đến năm 1970 Ấn Độ chú trọng đến công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn, liên tiếp qua các cuộc cách mạng “cách mạng xanh” sau đó là cuộc “cách mạng trắng” coi đây là một bước đột phá để phát triển đất nước. Trong những năm đầu của thập kỷ 90 Chính phủ Ấn Độ tiếp tục có chính sách cải thiện mức sống cho dân cư vùng nông thôn và phát triển nguồn nhân lực đó là xúc tiến công nghiệp nhỏ ở nông thôn theo chương trình công nghiệp hoá với một đất nước gần 1 tỷ dân trong đó 75% dân số sống bằng nghề nông. Nét mới trong phát triển công nghiệp nông thôn Ấn Độ là chỗ: - Chính phủ đầu tư sử dụng và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ để phát triển CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn như sử dụng công nghệ ít vốn cần nhiều lao động, có chính sách cho người vay vốn để sản xuất, triển khai các chương trình của chính phủ tại các địa phương.
- Nhà nước có chương trình bồi dưỡng và chính sách sử dụng cán bộ nhất là đội ngũ cán bộ nhằm mục tiêu phát triển kinh tế xã hội nông thôn và tiến tới công nghiệp hoá nông thôn ở mọi mức độ từ doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ ở làng, xóm tới huyện, thị. Điểm nổi bật của Ấn Độ là sự quan c 16 tâm của chính phủ đối với vấn đề giáo dục và bồi dưỡng kiến thức cho nhân dân về môi trường và sinh thái. Cuộc “cách mạng xanh” đã thực hiện ở mọi nơi kể cả nông thôn lẫn thành thị. Với những thành tựu nổi bật của công nghiệp hoá nông thôn đã đưa năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên rõ rệt.
Một số kinh nghiệm về sử dụng bồi dưỡng đội ngũ cán bộ nông nghiệp phục vụ phát triển kinh tế - xã hội nông thôn ở một số nước Châu Á: + Cán bộ nông nghiệp triển khai tập huấn các ứng dụng công nghệ cho sản xuất, phát triển ngành nghề khai thác tiềm năng sẵn có tại địa phương. + Quá trình phát triển kinh tề xã hội nông thôn ở các nước thường xẩy ra mất cân đối giữa cán bộ nông nghiệp ở nông thôn và trung tâm thành phố, thành thị nếu chúng ta không có chính sách đãi ngộ thích hợp thì chúng ta sẽ không thu hút được đội ngũ cán bộ nông nghiệp đã qua đào tạo, đó là sự lãng phí lớn về vật chất và ngày càng tạo ra khoảng cách lớn giữa thành thị và nông thôn 2.2 Tình hình phát triển nền nông nghiệp của Việt Nam Việt Nam vốn là một nước nông nghiệp, đang phát triển theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, vì thế nông nghiệp càng có vai trò quan trọng. Nông nghiệp cung cấp lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho công nghiệp và hàng hoá xuất khẩu. Giá trị sản phẩm nông nghiệp là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổng giá trị sản phẩm trong nước (GDP).
Theo số liệu thống kê năm 1999 bộ phận cấu thành này là 25,4%. Giá trị nông sản xuất khẩu chiếm khoảng 30% tổng kim ngạch xuất khẩu với 9 trong 15 mặt hàng xuất chủ yếu của toàn bộ nền kinh tế (gạo, cà phê, cao su, trà, đậu phộng, hạt điều, rau quả và hải sản). Nông nghiệp có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, sản xuất nông nghiệp cung cấp những sản phẩm thiết yếu cho xã hội. Trong tiến trình công nghiệp hóa, nông nghiệp cung cấp vốn, lao động, nguyên liệu.
cho c 17 công nghiệp và các ngành kinh tế khác. Việt Nam là quốc gia nông nghiệp với hơn 70% số dân sống ở nông thôn, nguồn sống chính vẫn là thu nhập từ nông nghiệp. Nhận thức rõ vị trí của nông nghiệp, trong bối cảnh suy giảm kinh tế, tập trung đầu tư vốn cho nông nghiệp Theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII (khóa X) Ban Chấp hành T.Ư Đảng về phát triển sản xuất, tăng tiêu dùng, ổn định kinh tế, góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Trong điều kiện hiện nay đất nông nghiệp ngày một giảm nhường đất để phát triển công nghiệp, đô thị hóa, giao thông., trong khi dân số ngày một tăng, vấn đề an ninh lương thực là một thách thức lớn.
Nông nghiệp - nông thôn có vị trí quan trọng trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, nhưng hiện nay nông nghiệp đang đứng trước những khó khăn thách thức lớn: Cơ sở vật chất kỹ thuật còn nghèo, công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn chậm, sau hơn 20 năm đổi mới chúng ta mới chỉ "đưa công nghiệp về làng". Hằng năm vốn đầu tư cho nông nghiệp còn ít, đầu tư còn dàn trải, hiệu quả sử dụng vốn thấp. Sau hai mươi năm đổi mới, kinh tế phát triển, mức sống dân cư tăng, nhưng mức chênh lệch thu nhập giữa thành phố, trung tâm công nghiệp với nông thôn từ hai đến ba lần, thậm chí có nơi gấp tới mười lần, nông thôn, vùng sâu, vùng xa mức sống rất thấp, tỷ lệ hộ nghèo đói cao.