Chương 1: Hội đồng niên trong cơ cấu tổ chức làng — xã đồng châu thé Bắc Bộ và ở làng Quan Đình (32 trang) Chương này được chia thành 2 phần. Phần đầu nêu tổng quát về cơ câu tổ chức làng Việt cô truyền và đương đại, trong đó đưa ra giả thuyết về nguồn gốc và mối liên hệ của các HĐN trong lịch sử và sự phục hồi của tổ chức này ở thời điểm hiện tại. Phần thứ hai giới thiệu cụ thé về lang Quan Dinh và các HĐN ở làng Quan Đình. Chương này có tính chất xác định bối cảnh cho các phân tích ở các chương tiếp theo.
- Chương 2: Hội đồng niên, các vai trò, khuôn mẫu và ứng xử (44 trang) Chương này phân tích cụ thé về vai trò, khuôn mẫu và ứng xử của các HDN trên hai phương diện: các tương tác giữa các thành viên bên trong hội và HĐN trong đời sống làng - xã. - Chương 3: Hội đồng niên và sự phản ánh một xã hội nông thôn đang chuyển đổi (34 trang) Nội dung của chương 3 là sự nhận diện những xu hướng biến đổi về văn hoá, xã hội đang diễn ra tại các làng — xã được phản ánh qua các HĐN như việc phục hồi và biến đổi văn hoá truyền thống, sự thay đổi của cấu trúc xã hội, mối quan hệ cá nhân - cộng đồng và cộng đồng — nhà nước. - Kết luận (4 trang) Phan này tông kết những kết quả nghiên cứu của luận văn, xem xét tính đúng đắn của các giả thuyết đặt ra ban đầu, từ đó đưa ra một vài kiến nghị về việc phát triển cộng đồng và quản lý xã hội tại các làng — xã hiện tại. -18- CHƯƠNG 1 HỘI ĐÒNG NIÊN TRONG CƠ CẤU TỎ CHỨC LÀNG - XÃ CHAU THO BAC BO VA O LANG QUAN ĐÌNH Lang - xã Việt Nam cũng như các thành tố của nó không phải là “nhất thành bất biến”, ngược lại, nó ra đời và vận động, biến đổi không ngừng cùng với lịch sử.
Chính vì vậy, mặc dù mục tiêu của luận văn là tìm hiểu về các HĐN trong bối cảnh xã hội đương đại, nhưng sẽ thật thiếu sót nếu không lưu tâm đúng mức đến lịch sử của t6 chức này. Liệu HDN đã từng hiện diện trong các làng - xã cé truyền hay đơn giản nó chỉ là sản phẩm của xã hội đương đại? HDN được định vị ở đâu trong tông thể các tô chức xã hội phức tạp của thôn làng truyền thống và đương đại? Thực chất của việc trả lời các câu hỏi trên là xác định một bối cảnh lịch sử của các HĐN. Vấn dé này sẽ được xem xét ở hai góc nhìn: tổng quan chung trên các làng - xã châu thé Bắc Bộ và tại một làng cụ thé - làng Quan Đình. Bức tranh chung trên châu thổ Bắc Bộ 1.
Làng Việt: khái niệm và cơ cấu tổ chức Làng - xã của người Việt ở châu thô Bắc Bộ luôn gợi ra cho các nhà nghiên cứu niềm hứng thú khám phá nhưng đồng thời cũng mang lại vô vàn những thách thức. Bởi lẽ, cho đến nay, trải qua hàng thập kỷ tìm tòi, nghiên cứu, bức tranh về làng - xã vẫn còn dang dé và ân chứa những điều bi ấn. Thật khó có thể xác định một mô thức chung cho làng - xã Việt Nam bởi tính đa dạng là một phần tất yếu của thực thể này. Tuy vậy, từ các nghiên cứu trong nhiều năm qua của các nhà khoa học, có thể mang lại cho chúng ta một khái nệm chung nhất có thể về làng — xã.
-19- Làng, theo nhà dân tộc học Nguyễn Tw Chi, là từ Nom, chỉ đơn vi tụ cư nhỏ nhất nhưng hoàn chỉnh của người nông dân. Xã, từ Hán chỉ đơn vị hành chính thấp nhất ở các vùng nông thôn Việt. Trên vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ, xã của người Việt có thé bao gồm từ một đến nhiều làng, tùy từng trường hợp. Được tích hợp vào một xã, làng trở thành yếu tố cấu thành của một đơn vị hành chính, và bấy gid, mang tên thôn (lại một từ Hán).
Như vậy, với làng và thôn, ta có hai thuật ngữ gần như đồng nghĩa, nhưng mang sắc độ khác nhau: làng với hàm nghĩa tình cảm - sử dụng trong ngôn ngữ thông thường còn thôn, biểu nghĩa nặng chất hành chính.(Trần Từ, 1984, tr.135) Xã là từ dùng dé chỉ một cấp hành chính. Nếu một xã chi gồm một làng, hay một làng là một xã mà người ta quen gọi là kết cầu “nhất xã nhất thôn”. Trong bi ký và các văn bản hành chính, tên các làng đó thường được gắn với khái niệm “xã”. Ví dụ làng Dương Liễu thuộc huyện Đan Phượng, phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây cũ là một xã thì các văn bản đều ghi là “Dương Liễu xã tục lệ”, “Dương Liễu xã địa bạ”.
Nếu một xã gồm nhiều làng thì trong bi ký, văn tế và các văn bản hành chính, từ làng được thay bằng từ thôn là một từ Hán-Việt và đứng sau là từ xã. Chẳng hạn, xã Vân Canh (thuộc huyện Từ Liêm, phủ Hoài Đức, tỉnh Ha Nội cũ) gồm 3 làng: Kim Hoàng, Hữu Ai, An Trai thì các văn bản đều ghi: “Vân Canh xã, Hữu ái thôn khoán lệ”. Như vậy nếu hiểu theo nội dung trên đây thì trong cả hai trường hợp “nhất xã nhất thôn” hay “nhất xã nhị tam thôn”. làng đồng nhất với thôn hay nói một cách khác từ thôn trong các văn bản Hán Nôm là một làng truyền thống được nhà nước lắp ghép thành đơn vị hành chính cơ sở (xã) mà số làng được tích hợp tuỳ vùng, tuỳ giai đoạn lịch sử.
Nghiên cứu về làng - xã, hầu hết các nhà nghiên cứu đều công nhận tính phức tap trong mối quan hệ giữa làng và xã trong lich sử Việt Nam. Làng và xã đôi khi tích hợp vào nhau, hoặc ít nhất cũng có quan hệ phụ thuộc, liên thông, liên kết với nhau. Sự phân biệt giữa làng và xã đặt ra vấn đề nan giải về mặt lý thuyết và cả về thực tiễn. Nó phản ánh mối quan hệ rắc rối giữa XHDS và nhà nước trong suốt - 20- quá trình lịch sử biến đổi và phát triển của nông thôn đồng băng sông Hồng nói riêng, nông thôn Việt Nam nói chung.
(Nguyễn Lâm Tuấn Anh, Nguyễn Thị Minh Phương, 2006, tr.70) Trong lịch sử Việt Nam, làng được coi là “tế bào sống của xã hội Việt”, nó không chi là một đơn vi cư trú mà ở đó chứa đựng và phản ánh những đặc trưng lịch sử và quá trình biến đổi của xã hội Việt Nam về kinh tế, chính trị, văn hoá. Ở làng, người ta tìm thấy những dấu ấn của các công xã nông thôn còn sót lại qua mảnh ruộng công. Ở làng, người ta sẽ một cộng đồng những người nông dân trồng lúa nước với sự đan xen của những người thợ thủ công và những người buôn bán. Cũng ở làng, người ta sẽ thấy những lễ hội, những sinh hoạt văn hóa dân gian, những hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của cộng đồng với trung tâm là đình làng, chùa làng.
Và còn quá nhiều điều để kể về làng nhưng tựu chung lại, có thể nói làng là một cộng đồng địa lý-chính trị, kinh tế, văn hoá. Tính cộng đồng dường như được coi là một đặc trưng không thể chối bỏ của làng Việt. Từ đó đã hình thành nên các khái niệm “cộng đồng làng - xã” hay “làng truyền thống”. Ở đó, mỗi người dân làng thường không tồn tại với tư cách cá nhân mà luôn luôn là thành viên của một cộng đồng nhất định.
Và tổng thé cơ cấu tổ chức xã hội của làng là sự hợp thành của nhiều mối quan hệ, nhiều loại hình tổ chức với các chức năng và cách vận hành riêng. Các hình thức tô chức này dan xen và chồng chéo lên nhau, có lúc mâu thuẫn nhau, nhưng nhìn chung các quan hệ này được coi là bé sung cho nhau, khiến cho làng đường như là một cộng đồng dân cư đa chức năng, rất 6n định, liên kết chat. Nhà dân tộc học Nguyễn Từ Chi là người đầu tiên cố gắng hệ thống hóa một cách đầy đủ về cơ cấu tổ chức xã hội làng Việt. Theo ông, tổng thể cơ cấu xã hội ở làng - xã cỗ truyền được tạo thành bởi 5 hình thức tập hợp người sau: 1.
Tập hợp người theo địa vựa: ngõ, xóm. Tập hợp người theo huyết thống: Họ tộc 3. Tập hợp người theo lớp tuổi: Giáp -21- 4. Tập hợp người trong bộ máy chính quyển ở cấp xã: Dân hàng xã, Hội đồng kỳ dịch (hay Hội đồng kỳ mục) và những lý dịch.
Tập hợp người trong những tổ chức dựa trên lòng tự nguyện tham gia của từng cá nhân: Phe, các hội: hội tư cấp, họ hiếu, họ hi, họ ăn tết, hội võ, hội chèo, hội chư bà, hội thiện; các phường theo nghề nghiệp: phường nề, phường mộc, phường sơn, phường chèo. (Trần Từ, 1984, tr.31-95) Bán quan phương Quan phương Phi quan phương Chính quyền cấp huyện Lê làng Tổng Xóm, phe, giáp ri Ho hàng (tộc biểu) Chính quyên câp Tiên, thứ chỉ, quan xã (lý dịch) viên (kỳ mục Thi trường Phường hội Tin ngưỡng Nghề nghiệp Tuôi Hình1.1: Thiết chế chính trị xã hội nông thôn năm 1945 Nguồn: GS. Phan Đại Doãn — PTS. Nguyễn Quang Ngọc (chủ biên): Kinh nghiệm tổ chức quản lý nông thôn Việt Nam trong lịch sử - NXB Chính trị quoc gia, H, 1994, Tr.
Cơ cấu tổ chức như Trần Từ mô tả được nhiều nhà khoa học sau này đồng tình. Các tác giả Phan Dai Doãn và Nguyễn Quang Ngọc đã mô hình hoá kết câu chính trị - xã hội truyền thống ở nông thôn nước ta theo như hình vẽ trên đây. Giữa mô hình thiết chế này và những gì mà nhà dân tộc học Trần Từ mô tả có nhiều điểm tương đồng. Tuy vậy, đằng sau cái mô hình tổ chức tưởng chừng như đã định hình thành một kết cấu ổn định đó là những giá trị và đặc trưng của xã hội nông thôn Việt Nam thì cho đến nay vẫn còn là một vấn đề gây nên nhiều tranh luận.
-22- Đặc điểm lớn nhất về tổ chức của làng - xã người Việt theo mô hình trên là sự đa hệ thống, với ít nhất là hai hệ thống thiết chế tổ chức cùng tồn tại song hành: các tổ chức quan phương và phi quan phương. Mỗi loại hình tổ chức khác nhau có những cách vận hành riêng và chức năng riêng. Tuy nhiên, dưới cái vẻ bề ngoài tưởng như rời rạc, lẻ tẻ Ấy là một sự thống nhất với nhau và phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ của các tô chức xã hội.