Chương 1. Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lí thuyết, phương pháp và địa bàn nghiên cứu Chương 2. Thực trạng các nguồn lực của trường Phổ thông Dân tộc nội trú trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên Chương 3: Định hướng phát triển nguồn nhân lực trong các trường Phổ thông Dân tộc nội trú tỉnh Thái Nguyên từ 1986 đến nay Chương 4: Những kết quả đạt được và hạn chế của định hướng phát triển nguồn nhân lực 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT, PHƢƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu Năm 1957, trường Thiếu nhi rẻo cao Khu tự trị Việt Bắc được thành lập đã đặt nền móng đầu tiên cho sự phát triển của hệ thống trường PTDTNT ở nước ta.
Trải qua hơn nửa thế kỉ phát triển, mô hình giáo dục chuyên biệt này dần trở nên phổ biến rộng khắp các tỉnh thành trên cả nước. Và ngôi trường PTDTNT không chỉ nhận được sự quan tâm của các cấp chính quyền, những nhà hoạch định chính sách dân tộc mà còn được các học giả, các nhà nghiên cứu rất chú ý. Những năm gần đây đã có nhiều công trình có giá trị nghiên cứu về mô hình trường PTDTNT, cụ thể: Năm 2001, Nxb Văn hóa dân tộc ấn hành cuốn sách Nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, các tác giả: Trần Xuân Nhĩ, Phạm Chí Đạo, Phạm Đình Thái. Tác phẩm bao gồm các báo cáo nêu lên những kinh nghiệm trong quá trình xây dựng và đào tạo ở các trường PTDTNT.
Tựa sách Hướng dẫn tổ chức hoạt động văn hoá xã hội trong trường phổ thông dân tộc nội trú do Lê Nguyên Quang chủ biên đã được Nxb Giáo dục phát hành năm 2012. Công trình là tập hợp các chuyên đề hướng dẫn các kịch bản cũng như quy trình tổ chức, triển khai các hoạt động văn hoá xã hội từ năm nội dung chính của phong trào thi đua “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Cuốn “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay” của Lô Quốc Toản được Nxb Chính trị Quốc gia phát hành vào năm 2010. Trong đó, tác giả trình bày có hệ thống quan niệm về “Phát triển nguồn cán bộ”, công tác “Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số” ở các tỉnh miền núi phía Bắc Việt Nam.
Đồng thời cũng phân tích thực trạng và đề ra những giải pháp phát triển nguồn cán bộ DTTS ở các tỉnh miền núi phía Bắc. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Ngọc Thanh (chủ biên) với cuốn “Một số vấn đề về chính sách giáo dục ở vùng cao miền núi phía Bắc Việt Nam” được Nxb Khoa học xã hội phát hành năm 2012. Tác phẩm đưa ra cái nhìn đầy đủ về chính sách xây dựng CSVC trong giáo dục, chương trình giảng dạy và sách giáo khoa, chính sách giáo dục về phát triển NNL. Tác giả đồng thời đã đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm phần nào khắc phục những hạn chế của chính sách giáo dục cho vùng cao miền núi phía Bắc.
Công trình “Hướng dẫn bảo tồn văn hóa trong trường phổ thông dân tộc nội trú” của nhóm tác giả Đào Nam Sơn (chủ biên), Vi Văn Điểu, Ngô Thị Thanh Thuỷ do Nxb Giáo dục phát hành năm 2012 cũng đóng góp vào việc làm phong phú thêm các nghiên cứu về trường PTDTNT. Nội dung giáo dục văn hoá truyền thống trong các trường DTNT đã được trình bày rõ nét trong cuốn sách này. Ngoài ra, nó còn đề cập đến vai trò của văn hoá truyền thống các dân tộc trong hoạt động giáo dục, các hoạt động và phương pháp giáo dục nhằm bảo tồn, bảo tàng và phát triển văn hoá truyền thống. Bên cạnh các công trình trên, cũng có khá nhiều luận án tiến sĩ của các ngành khoa học khác nhau và các bài chuyên khảo đăng trên các tạp chí chuyên ngành cũng đề cập đến những nội dung xoay quanh vấn đề trường PTDTNT.
Ngày 13 - 12 - 2010, tại đại học Sư phạm Hà Nội, Trương Xuân Cừ đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ Giáo dục học với đề tài: “Phát triển hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực Tây Bắc tạo nguồn đào tạo nhân lực thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại hóa”. Luận án đi sâu đánh giá thực trạng hệ thống trường PTDTNT khu vực Tây Bắc, về cả cơ cấu, quy mô, chất lượng và mức độ đáp ứng tạo nguồn đào tạo nhân lực. Tác giả còn đề xuất giải pháp phát triển hệ thống một cách bền vững, hiệu quả để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước. Tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, ngày 17 - 09 - 2012 đã diễn ra lễ bảo vệ đề tài luận văn tiến sĩ Tâm lý học: “Phẩm chất nhân cách của giáo viên trường phổ thông dân tộc nội trú khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam” của Đinh Đức Hợi.
Tác giả đã trình bày rõ cơ sở lý luận về phẩm chất nhân cách của GV các trường PTDTNT. Luận án cũng mô tả một số chân dung phẩm chất nhân cách của GV 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trường PTDTNT và đề xuất một số vấn đề về phương hướng và biện pháp trong khâu tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng GV trường PTDTNT. Nói về các chuyên khảo trên tạp chí phải kể đến bài viết “Phân luồng hướng nghiệp dạy nghề ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh theo hướng đổi mới phương thức đào tạo” của Lê Nguyên Quang đăng trên số Tạp chí Giáo dục, số 119. Bên cạnh đó còn có bài viết: “Giáo dục văn hóa dân tộc và tri thức địa phương ở trường phổ thông dân tộc nội trú tỉnh” của Hoàng Văn Sơn, Kiều Thị Bích Thủy đăng trên Tạp chí Giáo dục, số 130.
Tác giả Nguyễn Ngọc Thanh cũng có khá nhiều bài viết về vấn đề này, tiêu biểu như: “Thực hiện chính sách giáo dục đối với học sinh miền núi dân tộc thiểu số”, đăng trên Tạp chí nghiên cứu Giáo dục, số 6, năm 2003; hay: “Kết quả thực hiện chính sách giáo dục đối với giáo viên miền núi, dân tộc thiểu số”, đăng trong Kỷ yếu Hội nghị Thông báo Dân tộc học, Hà Nội, 2004. Ngoài những công trình kể trên, cũng có nhiều nghiên cứu khác về vấn đề trường PTDTNT mà trong quy mô, phạm vi của luận văn không đủ để đề cập hết. Tuy nhiên, về nội dung đề tài mà luận văn đang hướng tới thì chưa có tác giả nào đề cập. Chính vì thế, trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành tựu của các tác giả trước đó, luận văn sẽ tập trung phân tích và làm rõ vai trò của hệ thống trường PTDTNT tỉnh Thái Nguyên trong định hướng phát triển NNL vùng Đông Bắc nước ta.
Một số khái niệm cơ bản Trường phổ thông dân tộc nội trú: Trong Luật Giáo dục năm 2005, tại điều 61 có quy định về trường PTDTNT như sau: “Trường phổ thông dân tộc nội trú là loại trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú, được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị và ngân sách. Trường lựa chọn bố trí cán bộ, giáo viên, nhân viên để đảm bảo việc nuôi, dạy học sinh, đồng thời, cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của Nhà nước”. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trường PTDTNT bao gồm cấp THCS và cấp THPT, còn trường liên cấp là trường nội trú đặc biệt. Trường PTDTNT dành cho con em các DTTS (chỉ cho phép tối đa 5% số HS là người dân tộc Kinh) sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng ĐBKK về kinh tế - xã hội.
Nhà nước thành lập trường PTDTNT cho con em các DTTS, con em các dân tộc định cư lâu dài tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội ĐBKK, nhằm bồi dưỡng NNL, góp phần tạo nguồn đào tạo cán bộ cho các vùng này. Bằng những chương trình cụ thể, nhà nước đã đầu tư xây dựng CSVC và tăng cường thiết bị trường học cho hệ thống trường PTDTNT để trở thành trường có CSVC tốt nhất ở các địa phương. Nguồn nhân lực: Khái niệm nguồn nhân lực (Human Resource) (còn được gọi là nguồn lực con người, nguồn lực cho lao động) chỉ thực sự xuất hiện khoảng vài chục năm gần đây. Khái niệm này có mặt trong hầu hết các lý thuyết kinh tế học và được coi là một thành tố cơ bản của nền sản xuất xã hội.
Hiện nay, có khá nhiều cách tiếp cận và lí giải về NNL. Theo định nghĩa tổng quan của Liên hiệp quốc thì “nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ với sự phát triển của mỗi cá nhân và của đất nước”. Trong đó, NNL có thể hiểu ở nghĩa rộng là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội và nguồn lực con người cho sự phát triển. Ở góc độ hẹp hơn, NNL được xem như là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia lao động và sản xuất xã hội.
Nói cách khác, NNL là tổng thể những tiềm năng của con người (trước hết và cơ bản nhất là tiềm năng lao động), bao hàm yếu tố thể lực, trí lực và nhân cách của con người nhằm đáp ứng yêu cầu của một tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế - xã hội nhất định. Nguồn nhân lực chất lượng cao: Từ cách hiểu về NNL, có nhiều cách hiểu khác nhau về NNL chất lượng cao. Theo cách hiểu mang tính định tính, NNL chất lượng cao được xem là một bộ phận của lực lượng lao động, có khả năng đáp ứng những yêu cầu phức tạp của công việc, từ đó tạo ra năng suất và hiệu quả cao trong công việc. Tiếp cận theo khía cạnh định lượng cũng có những cách hiểu khác nhau 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com về NNL chất lượng cao.
Thứ nhất, NNL chất lượng cao là những người lao động đã qua đào tạo, có bằng cấp và trình độ chuyên môn kỹ thuật. Cách hiểu định lượng hẹp hơn, coi NNL chất lượng cao là NNL có trình độ đại học, cao đẳng; NNL lãnh đạo, quản lý và hoạch định chính sách; NNL khoa học công nghệ, đội ngũ giảng viên các trường đại học, cao đẳng.