Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Các công trình khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài luận án 1. Các công trình nghiên cứu liên quan đến vai trò nhân tố chủ quan Là vấn đề liên quan trực tiếp đến vai trò chủ thể của con người trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, vấn đề nhân tố chủ quan được các nhà triết học xem xét một cách không biệt lập mà trái lại, nó được đặt trong các mối quan hệ chặt chẽ với các phạm trù “chủ thể”, “khách thể”, “khách quan”, “chủ quan”, “cái chủ quan”, “cái khách quan”, v. Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn xây dựng chủ nghĩa xã hội hiện thực, trong nghiên cứu, nhận diện và vận dụng các quy luật xã hội, do có sự liên quan trực tiếp nên vấn đề nhân tố chủ quan được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm chú ý.
Tiêu biểu có các công trình khoa học: Trong bài viết Phép biện chứng về điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong việc xây dựng chủ nghĩa cộng sản [46], tác giả G.Glê-dec-man (1965) đã phân tích nội dung phạm trù nhân tố chủ quan và những phạm trù liên quan với nó. Theo tác giả, để hiểu về phạm trù “điều kiện khách quan” và “nhân tố chủ quan” cần phải được bắt đầu từ các khái niệm cơ bản có liên quan của triết học, nhất là các phạm trù có liên quan trực tiếp như: khách thể, chủ thể, khách quan, chủ quan. Tác giả khẳng định rằng, cái gì thuộc về chủ thể và phụ thuộc vào nó là cái chủ quan và hoạt động của con người luôn luôn diễn ra trong những điều kiện nhất định - những điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan, chúng trở thành các nhân tố hay các mặt của hoạt động. Cũng bàn về phạm trù “chủ quan” và “khách quan”, trong công trình Phép biện chứng vật chất - kỹ thuật khoa học tự nhiên, xã hội và kỹ thuật [91], tác giả Y.Plet-ni-côp (1983) cho rằng, khái niệm chủ thể và khách thể có mối liên hệ chặt chẽ với khái niệm khách quan và chủ quan.
Khái niệm “chủ quan” và “khách quan” nói lên thuộc tính chung của chủ thể và khách 11 thể bộc lộ trong quá trình hoạt động của con người. Theo tác giả, giải thích một cách chung nhất thì chủ quan và khách quan chính là những thuộc tính của chủ thể và khách thể trong hoạt động xác định đó. Trong công trình Những quy luật xã hội học [133] của tác giả A.U- le-dốp (1980), luận án đã kế thừa được kết quả nội dung phân tích về yếu tố tư tưởng trong phạm trù nhân tố chủ quan. Từ việc phê phán quan điểm của một số nhà nghiên cứu đồng nhất nhân tố chủ quan với ý thức của chủ thể, tác giả cho rằng nhân tố chủ quan chỉ bao gồm những bộ phận ý thức của chủ thể tham gia vào chỉ đạo hoạt động của chủ thể tác động đến khách thể.
Theo tác giả, cùng với tri thức là những quan điểm, tư tưởng tạo thành niềm tin của chủ thể trong hành động, là ý chí, quyết tâm của chủ thể trong hoạt động cải tạo thế giới; tri thức, quan điểm, tư tưởng, niềm tin và ý chí của chủ thể hòa quyện, thống nhất biện chứng với nhau cùng tham gia vào chỉ đạo hoạt động của chủ thể, tạo thành những yếu tố của nhân tố chủ quan. Công trình Chủ nghĩa quyết định xã hội: vấn đề động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội [17], tác giả L.Chi-na-ko-va (1985) cho rằng, trong hoạt động của con người không phải những gì thuộc về chủ thể đều được sử dụng trong quá trình tương tác với một khách thể cụ thể. Chỉ những thuộc tính, phẩm chất, năng lực mà chủ thể huy động tham gia trực tiếp vào hoạt động thì mới được coi là nhân tố chủ quan. Trong công trình này, L.Chi-na- ko-va cũng lưu ý phân biệt khái niệm “yếu tố” và khái niệm “nhân tố”, theo đó, “yếu tố” chỉ cái bộ phận, cái hợp thành sự vật, hiện tượng, còn “nhân tố” chỉ cái trực tiếp gây ra sự biến đổi.
Như vậy, “nhân tố chủ quan” chỉ là một bộ phận của “cái chủ quan” được sử dụng trực tiếp trong quá trình tương tác với khách thể cụ thể. Và “nhân tố chủ quan” cũng không phải là bản thân chủ thể, mà là những thuộc tính, những phẩm chất, năng lực của chủ thể được chủ thể huy động trong một hoạt động cụ thể để tạo ra tính tích cực, sáng tạo nhằm biến đổi khách thể theo mục đích xác định. Đây là những nội dung có liên quan trực tiếp đến nội đề tài mà luận án tiếp thu, kế thừa cho việc tiếp tục phân tích, làm rõ nội dung lý luận về nhân tố chủ quan. 12 Ngoài các công trình nêu trên, nhiều nhà nghiên cứu ở nước ngoài đã đề cập đến vấn đề khách quan, chủ quan, nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan, quan hệ biện chứng cái khách quan và cái chủ quan, vấn đề phát huy vai trò của nhân tố chủ quan trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Hầu hết đều cho rằng, khái niệm chủ quan và khách quan nói lên thuộc tính chung của chủ thể và khách thể bộc lộ trong quá trình hoạt động của con người. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, những tính chất, yếu tố thuộc về chủ thể là chủ quan; những tính chất, yếu tố không phụ thuộc vào chủ thể, tồn tại ngoài chủ thể là khách quan. Tuy nhiên, không thể đồng nhất khái niệm cái khách quan với khái niệm hiện thực khách quan hay thế giới vật chất nói chung. Dù điều kiện thực tiễn, hoàn cảnh lịch sử đã khác rất nhiều với hiện nay, tuy vậy, những kết quả nghiên cứu trong các công trình, bài viết này vẫn còn có giá trị về mặt khoa học, phương pháp luận, cung cấp cho nghiên cứu sinh những tri thức khoa học, quan niệm mác-xít về vấn đề khách quan, chủ quan, nhân tố chủ quan, về mối quan hệ biện chứng giữa cái khách quan và cái chủ quan để tham khảo, vận dụng trong nghiên cứu luận án của mình.
Vấn đề vai trò nhân tố chủ quan cũng đã được nhiều nhà nghiên cứu trong nước quan tâm phân tích, luận giải mà những kết quả nghiên cứu này có rất nhiều nội dung để nghiên cứu sinh kế thừa, tiếp thu cho luận án của mình. Công trình khoa học Mối quan hệ giữa điều kiện khách quan và nhân tố chủ quan trong phát triển bản chất giai cấp công nhân của Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay [86] của tác giả Phạm Văn Nhuận (2001) là công trình có một số nội dung liên quan trực tiếp tới luận án mà nghiên cứu sinh có thể tiếp thu và làm rõ thêm đó là: Cơ sở lý luận, phương pháp luận về mối quan hệ giữa điều kiện khách quan, nhân tố chủ quan, những vấn đề có tính quy luật về mối quan hệ giữa chúng. Theo tác giả, nhân tố chủ quan bao gồm một tập hợp những yếu tố cần thiết tạo ra tính tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của chủ thể trong hoạt động nhận thức và cải tạo khách thể nhất định. Trong công trình này, tác giả còn phân tích một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng các yếu tố hợp thành nhân tố chủ quan đó là: nâng cao nhận thức, năng lực 13 hoạt động thực tiễn, phẩm chất nhân cách của các chủ thể thì trước hết cần giải quyết đúng đắn vấn đề lợi ích, tạo nguồn gốc động lực thúc đẩy tính tích cực hoạt động của chủ thể.
Trong công trình Tích cực hóa nhân tố chủ quan để giai cấp công nhân Việt Nam thực hiện và hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình [65], trên cơ sở nghiên cứu, tác giả Trần Thị Bích Liên (2001) đã làm rõ thêm một số nội dung có liên quan trực tiếp tới luận án như: Quan niệm về các phạm trù chủ thể, cái chủ quan, nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan; thực chất của vấn đề tích cực hóa nhân tố chủ quan. Tác giả cho rằng, trong những điều kiện khách quan đã chín muồi, hay đã ít nhiều chín muồi thì vai trò của nhân tố chủ quan có ý nghĩa quyết định, được coi là nhân tố chủ đạo trong việc biến khả năng thành hiện thực, thúc đẩy hay kìm hãm sự tiến bộ xã hội. Do đó phải không ngừng gia tăng tính năng động, sáng tạo của ý thức, gia tăng tính năng động chủ quan trong hoạt động thực tiễn của con người, của các giai cấp, các đảng phái trong thực tiễn, và các nhóm giải pháp chủ yếu nhằm tích cực hóa nhân tố chủ quan là giải pháp về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và giải pháp về xây dựng giai cấp công nhân. Trong công trình nghiên cứu Phát huy vai trò nhân tố chủ quan trong hoạt động của hệ thống chính trị cấp cơ sở ở Bà Rịa - Vũng Tàu hiện nay [66], tác giả Nguyễn Hồng Lương (2006) đã nhấn mạnh rằng, đặc trưng của nhân tố chủ quan là bộ phận ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và là phương châm của hoạt động, tức là cái ý thức đã biến thành động lực của hành vi, của hoạt động của chủ thể.
Tác giả còn cho rằng, vai trò tích cực, sáng tạo của nhân tố chủ quan là sự phát hiện ra khả năng khách quan, trên cơ sở những điều kiện, phương tiện vật chất của hoàn cảnh khách quan để tác động và biến đổi nó theo quy luật vốn có của nó. Về phát huy vai trò nhân tố chủ quan, theo tác giả, đó chính là phát huy tính tích cực, sáng tạo của chủ thể, trong việc vận dụng quy luật khách quan, tác động vào điều kiện khách quan. Do đó, phải ngăn ngừa cả khuynh hướng chủ thể thụ động, ỷ lại, trông 14 chờ vào hoàn cảnh khách quan và khuynh hướng hành động duy ý chí, bất chấp hoàn cảnh khách quan, không tôn trọng, hoặc không vận dụng sáng tạo quy luật khách quan vào hoàn cảnh cụ thể. Ngoài các công trình nêu trên, còn có nhiều công trình khác cũng đã nghiên cứu về vấn đề nhân tố chủ quan và vai trò của nó ở các lĩnh vực như công tác xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên ở nông thôn, trong xây dựng, phát triển sức mạnh chiến đấu của quân đội nhân dân,.
Trên nhiều tạp chí lý luận, sách tham khảo cũng có nhiều bài viết đề cập tới nội dung này, các tác giả đã hệ thống lại một số quan điểm của các nhà nghiên cứu về vấn đề nhân tố chủ quan, điều kiện khách quan và vận dụng đề xuất những giải pháp nâng cao vai trò nhân tố chủ quan trong giai đoạn hiện nay.