Chương 1 NHÂN TỐ CHỦ QUAN VÀ VAI TRÒ CỦA NHÂN TỐ CHỦ QUAN TRONG VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Khái niệm nhân tố chủ quan, văn hóa dân tộc và bản sắc văn hóa dân tộc 1. Khái niệm nhân tố chủ quan Cùng với quá trình hoạt động thực tiễn của con người, khái niệm nhân tố chủ quan (NTCQ) và điều kiện khách quan (ĐKKQ) từng bước được hình thành và phát triển. Để hiểu được nội dung của khái niệm này thì nhất thiết phải tìm hiểu đến những khái niệm có liên quan như khái niệm "chủ thể", "khách thể", chỉ khi nào hiểu được các khái niệm này thì mới hiểu được khái niệm NTCQ và ĐKKQ.
"Chủ thể", "khách thể" là những khái niệm rất quan trọng, trong mối quan hệ với khái niệm "NTCQ" và "ĐKKQ", nếu không hiểu được các khái niệm này thì cũng không thể hiểu được khái niệm "NTCQ" và "ĐKKQ" hoặc hiểu không đúng, dễ bị nhầm lẫn đồng nhất giữa các khái niệm. * Về khái niệm: “chủ thể”, “khách thể”: Trong quá trình hoạt động của mình, con người đã tác động vào thế giới khách quan, cải tạo thế giới khách quan nhằm phục vụ lợi ích con người. Vì vậy, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, đồng thời vừa là chủ thể của hoạt động cải tạo hoàn cảnh, từ đó đã hình thành nên khái niệm chủ thể. Khái niệm chủ thể đã được rất nhiều nhà triết học quan tâm nghiên cứu và đã đưa ra nhiều định nghĩa và cách hiểu khác nhau.
Có quan niệm cho rằng "Chủ thể là con người (cá nhân hoặc nhóm.) tiến hành hoạt động nhận thức và hoạt động cải tạo thực tiễn" [49, tr. Quan điểm khác thì lại hiểu "Chủ thể là con người có ý thức và ý chí, và đối lập với khách thể bên ngoài" [50, tr. Từ những khái niệm trên cho thấy: Tùy từng đối tượng được xem xét mà xác định chủ thể tương ứng, chủ thể có thể là cả loài người, một nhóm người, 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com một giai cấp, một đảng phái hay một tổ chức chính trị - xã hội nào đó, bằng những hoạt động của mình nhằm cải tạo đối tượng khách thể, làm cho đối tượng ấy (khách thể) biến đổi cho phù hợp với lợi ích của mình. Như vậy, có thể hiểu: chủ thể là con người có ý chí, có ý thức, mang tính sáng tạo với những cấp độ tồn tại khác nhau (cá nhân, nhóm, giai cấp) bằng hoạt động thực tiễn của mình đã và đang tác động đến khách thể.
Con người ở đây với tư cách là chủ thể có ý thức và ý chí, bằng hoạt động mang tính sáng tạo của mình tác động vào đối tượng (khách thể) nhằm cải tạo đối tượng (tự nhiên và xã hội) cho phù hợp với mục đích của chủ thể và phục vụ chủ thể. Năng lực sáng tạo của chủ thể được thể hiện bằng phương pháp, cách thức tác động vào đối tượng nhằm đạt được mục đích đề ra.Lênin nói: "Khái niệm ấy (= con người) là khuynh hướng tự mình thực hiện mình, tự cho mình, qua bản thân mình, một tính khách quan trong thế giới quan và tự hoàn thiện (tự thực hiện) mình" [20, tr. Với cách hiểu khái niệm “chủ thể” như vậy thì có thể quan niệm: Khách thể là tất cả những đối tượng mà chủ thể bằng ý thức và hoạt động thực tiễn của mình tác động vào chúng nhằm nhận thức và cải tạo chúng cho phù hợp với mục đích con người. Khách thể không phải là toàn bộ hiện thực khách quan mà chỉ là một bộ phận của hiện thực khách quan.
Hiện thực khách quan vô cùng phong phú nên khách thể (với tư cách là bộ phận của thế giới khách quan) cũng vô cùng phong phú, khách thể có thể là những sự vật, hiện tượng hay quá trình trong tự nhiên cũng như trong đời sống xã hội, những quan hệ kinh tế, những quan hệ chính trị - xã hội, kể cả những quan hệ tư tưởng cũng là những khách thể của những chủ thể tương ứng. Khách thể và chủ thể có mối quan hệ khăng khít với nhau, tồn tại song song với nhau, khách thể là khách thể của chủ thể xác định và ngược lại, chủ thể là chủ thể của khách thể tương ứng, không có khách thể và chủ thể chung chung trừu tượng tồn tại một cách độc lập tách rời bất biến. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Như vậy, có thể nói khách thể và chủ thể có mối quan hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau, mặt này là tiền đề tương tác của mặt kia, và con người chỉ trở thành chủ thể khi hoạt động tác động vào thế giới khách quan, biến thế giới khách quan ấy thành khách thể của quá trình hoạt động thực tiễn của mình. Chủ thể nhận thức và cải tạo một cách chủ động sáng tạo khách thể theo mục đích của mình; nhưng chính khách thể bị tác động lại quy định chủ thể.
Bởi lẽ, khách thể tồn tại độc lập với chủ thể và luôn vận động theo những quy luật vốn có của nó, chỉ khi nào chủ thể nhận thức, hành động phù hợp với quy luật vận động của khách thể, khi đó hoạt động của chủ thể mới đem lại hiệu quả tích cực. * Khái niệm "Nhân tố chủ quan" và "Điều kiện khách quan" Khi xem xét hoạt động của con người, người ta không chỉ nghiên cứu các khái niệm “chủ thể” và “khách thể”; mà còn quan tâm tới khái niệm "nhân tố chủ quan "và" điều kiện khách quan. Bởi vì các khái niệm điều kiện và nhân tố chủ quan được dùng để chỉ mối quan hệ giữa hoạt động có ý thức của con người và hoàn cảnh mà trong đó con người hoạt động. - Khái niệm "Nhân tố chủ quan" Khái niệm nhân tố chủ quan không hoàn toàn đồng nhất với khái niệm chủ thể.
Hiện nay trên sách, báo tạp chí nghiên cứu xuất hiện nhiều những quan niệm khác nhau về khái niệm nhân tố chủ quan. Chẳng hạn, trong khi nghiên cứu khái niệm "nhân tố chủ quan", có tác giả đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có ý thức của con người nói chung. "Nhân tố chủ quan trong sự phát triển xã hội là hoạt động có ý thức của những con người, những giai cấp, những chính đảng sáng tạo ra lịch sử" 31, tr. Cũng có tác giả lại giới hạn và đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người.
Như vậy, nhóm quan niệm nêu trên thường nhấn mạnh đặc trưng sáng tạo của ý thức, tư tưởng, vai trò của ý thức trong việc phản ánh điều kiện khách quan. Những quan niệm trên đây có nhiều giá trị và tính hợp lý, vì đã chỉ ra vai trò của ý thức, tính tự giác trong hoạt động của con người. Nhưng, nếu đồng nhất nhân tố chủ quan với hoạt động có thức của con người; hoặc giới hạn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân tố chủ quan với hoạt động tự giác của con người, thì theo chúng tôi chưa thật đầy đủ và như vậy dễ dẫn đến tình trạng "chủ quan hoá" hoạt động của con người. Bởi vì, hoạt động của con người không chỉ thuần tuý thuộc về nhân tố chủ quan mà còn bị chi phối và quy định của điều kiện khách quan.
Theo chúng tôi, nói tới "nhân tố chủ quan", trước hết chúng ta cần đề cập tới đặc trưng cơ bản của nó là "tính tích cực, tính sáng tạo" của chủ thể hoạt động. Bởi lẽ, các nguyên lý triết học Mác xít chỉ ra rằng, con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể của mọi quá trình diễn ra trong lịch sử - xã hội loài người. Do đó, khi đặt con người với tư cách là chủ thể (Tuỳ ở cấp độ xem xét là nhóm, giai cấp.) trong trạng thái đang tích cực hoạt động trước một đối tượng cần nhận thức và cải tạo nó theo một mục đích nhất định, với đầy đủ các mặt yếu tố, động lực, phẩm chất và năng lực. Tính tích cực của chủ thể - Các nhân tố tạo thành nguyên nhân và điều kiện của mọi hoạt động tích cực của chủ thể, chúng ta có khách niệm nhân tố chủ quan và đối lập với nó là điều kiện khách quan 35, tr.
Từ những nội dung phân tích trên đây, theo chúng tôi, giữa nhân tố chủ quan và chủ thể có sự thống nhất, nhưng không đồng nhất với nhau. Sự thống nhất giữa khái niệm "chủ thể" và "nhân tố chủ quan" được thể hiện ở chỗ : nhân tố chủ quan về tất yếu luôn thuộc về chủ thể. Còn giữa các khái niệm này có sự khác nhau và tính độc lập tương đối. Vì nhân tố chủ quan, là khái niệm để chỉ những yếu tố, đặc trưng cấu thành phẩm chất của chủ thể, được chủ thể huy động và trực tiếp tạo ra năng lực, cũng như động lực của chủ thể nhằm để biến đổi khách thể cụ thể.
Do đó: Nhân tố chủ quan là những gì thuộc về chủ thể và tham gia trực tiếp vào một hoạt động cụ thể của chủ thể cũng như bản thân sự hoạt động đó. Với quan niệm về khái niệm nhân tố chủ quan nêu trên, theo chúng tôi xét về cấu trúc nhân tố chủ quan, bao gồm. Thứ nhất: ý thức của chủ thể là nhân tố cấu thành nội dung khái niệm nhân tố chủ quan. Song điều đáng lưu ý đó là, không phải là ý thức nói chung 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của chủ thể là nhân tố chủ quan, mà là những bộ phận ý thức đã trở thành sự chỉ đạo, sự kích thích và là phương châm của hoạt động, nói cách khác là ý thức đã biến thành đặc điểm nhất định của hành vi, của hoạt động của chủ thể 40, tr.
Thứ hai: Nói tới nhân tố chủ quan là nói tới hoạt động có ý thức của con người (con người cụ thể, của giai cấp, của chính đảng.) để sáng tạo ra lịch sử; là nói tới tính tổ chức, ý chí và nghị lực của họ để giải quyết những nhiệm vụ lịch sử nhất định. Do đó, nhân tố chủ quan không chỉ thuần tuý là ý thưc của chủ thể mà còn bao gồm cả bản thân quá trình hoạt động đó. Vì ý thức của chủ thể cùng lắm mới chỉ dừng lại ở "giải thích thế giới". Điều đó, như trước đây Mác cũng đã từng khẳng định: "Tư tưởng căn bản không thực hiện được gì hết, muốn thực hiện tư tưởng thì cần có những con người sử dụng lực lượng thực tiễn" 21, tr.