Luận văn: Vai trò giám sát của HĐND trong tố tụng hình sự tại Cà Mau

Luận văn phân tích vai trò của Hội đồng nhân dân tỉnh Cà Mau trong giám sát cơ quan tố tụng hình sự. Đánh giá thực trạng và đưa ra giải pháp.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2013

84
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Danh mục các chữ viết tắt

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ

1.1. Cơ sở lý luận về vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.1.1. Khái niệm giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.1.2. Vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.1.3. Nội dung, đối tượng, hình thức, căn cứ và các nguyên tắc cơ bản về giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.1.4. Hậu quả của hoạt động giám sát

1.1.4.1. Kết luận giám sát và kiến nghị đến cơ quan được giám sát về việc thi hành kết luận giám sát
1.1.4.2. Kiến nghị đến cơ quan cấp trên của cơ quan được giám sát về một số vấn đề có liên quan

1.2. Hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS qua các thời kỳ lịch sử ở Việt Nam

1.2.1. Theo quy định của Hiến pháp năm 1959

1.2.2. Theo quy định của Hiến pháp 1980

1.3. Pháp luật hiện hành về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.3.1. Quy định của Hiến pháp về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.3.2. Quy định của Luật Tổ chức HĐND và UBND về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.3.3. Quy định của Luật TTHS về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

1.3.4. Các quy định khác về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ TẠI TỈNH CÀ MAU

2.1. Tình hình chung về thực tiễn giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS ở tỉnh Cà Mau

2.1.1. Giám sát của HĐND tỉnh đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

2.1.2. Giám sát của HĐND cấp huyện đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

2.2. Đánh giá về những khiếm khuyết của cơ chế, pháp luật và thực tiễn việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

2.2.1. Về mặt pháp luật

2.2.2. Cơ chế bảo đảm thực hiện

2.2.3. Về thực tiễn việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

3. CHƯƠNG 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG GIÁM SÁT CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ

3.1. Cơ sở của việc hoàn thiện pháp luật về hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

3.2. Hoàn thiện một số quy định của pháp luật có liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

3.2.1. Sửa đổi, bổ sung quy định trong Hiến pháp 1992 có liên quan đến hoạt động giám sát của HĐND đối với các cơ quan tiến hành TTHS

3.2.2. Sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003

3.2.3. Kiến nghị khác có liên quan

3.3. Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

3.3.1. Đổi mới hình thức giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

3.3.2. Đổi mới hình thức và nội dung chất vấn

3.3.3. Tăng cường thu thập và xử lý thông tin có liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS

3.3.4. Hoạt động giám sát đối với các cơ quan tiến hành TTHS phải được tiến hành thường xuyên

3.3.5. Nâng cao hiệu quả giám sát các cơ quan tiến hành TTHS tại kỳ họp của HĐND

3.3.6. Lựa chọn, cơ cấu Đại biểu, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng giám sát cho Đại biểu HĐND

3.3.7. Tăng cường vai trò điều hòa, phối hợp hoạt động của Thường trực HĐND, các Ban HĐND

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan vai trò HĐND giám sát tố tụng hình sự Cà Mau

Trong hệ thống bộ máy nhà nước, Hội đồng nhân dân (HĐND) giữ vị trí là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí và quyền làm chủ của nhân dân. Một trong hai chức năng cốt lõi của HĐND là giám sát. Hoạt động giám sát tố tụng hình sự là một nhiệm vụ hiến định, nhằm đảm bảo các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự (TTHS) tuân thủ nghiêm ngặt Hiến pháp và pháp luật. Tại Cà Mau, vai trò này càng trở nên quan trọng trong bối cảnh cải cách tư pháp và xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Giám sát của HĐND không chỉ là theo dõi, kiểm tra mà còn là một hình thức kiểm soát quyền lực nhà nước từ bên ngoài. Hoạt động này giúp phát hiện và uốn nắn kịp thời những sai sót, vi phạm trong công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Thông qua giám sát, HĐND kiểm chứng tính đúng đắn của pháp luật, đánh giá sự phù hợp của các nghị quyết đã ban hành và thu thập thông tin để đưa ra các quyết định quan trọng, sát với thực tiễn. Mục tiêu cuối cùng là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, củng cố niềm tin của nhân dân vào hệ thống tư pháp, góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Hiệu quả của vai trò HĐND giám sát trực tiếp tác động đến chất lượng hoạt động của Tòa án nhân dân (TAND), Viện kiểm sát nhân dân (VKSND)Cơ quan điều tra, đảm bảo mọi hoạt động tố tụng diễn ra khách quan, minh bạch và đúng pháp luật.

1.1. Khái niệm và bản chất quyền giám sát của HĐND

Giám sát của HĐND được hiểu là tổng thể các hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Đại biểu HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS. Bản chất của quyền giám sát này là sự ủy quyền của nhân dân, thực hiện kiểm soát việc thực thi quyền lực nhà nước. Theo Từ điển luật học, giám sát là “sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực”. Đối với tố tụng hình sự, giám sát của HĐND tập trung vào việc tuân thủ pháp luật trong các giai đoạn từ khởi tố, điều tra đến xét xử, đảm bảo không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội. Đây là quyền lực mà nhân dân địa phương trao cho cơ quan đại diện của mình, thể hiện tính dân chủ và pháp quyền trong tổ chức bộ máy nhà nước.

1.2. Cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát tố tụng hình sự

Quyền giám sát của HĐND đối với các cơ quan tư pháp được quy định rõ ràng trong các văn bản pháp luật cấp cao. Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi 2001) tại Điều 122 khẳng định quyền chất vấn của Đại biểu HĐND đối với Chánh án TAND và Viện trưởng VKSND. Cụ thể hóa điều này, Luật Tổ chức HĐND và UBND năm 2003 tại Điều 1 và Điều 58 quy định HĐND thực hiện quyền giám sát đối với hoạt động của TAND, VKSND cùng cấp. Bên cạnh đó, Bộ luật TTHS năm 2003 (Điều 32) cũng ghi nhận quyền giám sát của đại biểu dân cử đối với hoạt động của các cơ quan và người tiến hành tố tụng. Các văn bản này tạo thành một hành lang pháp lý vững chắc, là căn cứ để HĐND tỉnh Cà Mau triển khai các hoạt động giám sát một cách hệ thống và hiệu quả.

II. Những thách thức trong giám sát tố tụng hình sự tại Cà Mau

Mặc dù có cơ sở pháp lý vững chắc, thực tiễn hoạt động giám sát tố tụng hình sự của HĐND tỉnh Cà Mau vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và thách thức. Những hạn chế này xuất phát từ cả nguyên nhân chủ quan và khách quan, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực, hiệu quả của công tác giám sát. Một trong những vấn đề nổi cộm là nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò và trách nhiệm của HĐND trong một bộ phận đại biểu và ngay cả trong các cơ quan chịu sự giám sát. Điều này dẫn đến tâm lý nể nang, ngại va chạm, làm cho hoạt động giám sát đôi khi chỉ mang tính hình thức. Công tác giám sát chưa được tiến hành đều đặn, chủ yếu do Thường trực HĐND và các Ban chuyên trách thực hiện, trong khi sự tham gia của các đại biểu còn hạn chế. Nội dung giám sát có lúc chưa sâu, chưa tập trung vào các vấn đề bức xúc mà cử tri quan tâm. Hơn nữa, cơ chế đảm bảo thực hiện các kết luận, kiến nghị sau giám sát chưa rõ ràng, thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm pháp lý. Điều này làm giảm giá trị của các kết luận giám sát, dẫn đến tình trạng các kiến nghị không được các cơ quan liên quan tiếp thu và khắc phục một cách triệt để. Việc thiếu thông tin, hạn chế về thời gian và năng lực chuyên môn của một bộ phận đại biểu cũng là rào cản lớn, khiến cho việc phân tích, đánh giá hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS trở nên khó khăn, thiếu chiều sâu.

2.1. Hạn chế về năng lực và nhận thức của Đại biểu HĐND

Một trong những nguyên nhân chính của các hạn chế là “sự hạn chế trong nhận thức” và “sự hạn chế về năng lực, trình độ” của một bộ phận Đại biểu HĐND. Phần lớn đại biểu hoạt động theo chế độ kiêm nhiệm, thiếu thời gian và kiến thức chuyên sâu về pháp luật, đặc biệt là pháp luật tố tụng hình sự. Điều này dẫn đến việc “thiếu sự tự tin và chưa quyết liệt”, còn tâm lý “nể nang, ngại va chạm”. Khi tham gia giám sát, đại biểu khó có thể phát hiện những sai sót tinh vi trong hoạt động nghiệp vụ của Cơ quan điều tra, VKSND hay TAND. Do đó, việc nâng cao trình độ chuyên môn, bồi dưỡng kỹ năng giám sát cho đại biểu là yêu cầu cấp thiết để cải thiện chất lượng hoạt động này.

2.2. Bất cập về cơ chế pháp lý và tính hình thức trong giám sát

Cơ chế pháp lý cho hoạt động giám sát vẫn còn những khoảng trống. Luận văn chỉ ra rằng “chưa có quy định ràng buộc trách nhiệm pháp lý nếu không thực hiện đúng kết luận giám sát”. Điều này làm cho các kiến nghị của HĐND không có tính bắt buộc cao, hiệu lực giám sát bị suy giảm. Bên cạnh đó, “tính hình thức trong hoạt động của HĐND” vẫn tồn tại. Các báo cáo của cơ quan tư pháp đôi khi chỉ tập trung vào liệt kê số liệu, thành tích, chưa phân tích sâu về những tồn tại, hạn chế. Thời gian dành cho việc xem xét báo cáo, thảo luận tại các kỳ họp thường rất ngắn, không đủ để các đại biểu nghiên cứu kỹ lưỡng, dẫn đến các đánh giá, kết luận còn chung chung, chưa đi vào trọng tâm vấn đề.

III. Phương pháp HĐND giám sát qua kỳ họp tại Cà Mau hiệu quả

Kỳ họp HĐND là hình thức giám sát tập trung và quan trọng nhất, nơi thể hiện rõ nhất quyền lực của cơ quan dân cử. Tại Cà Mau, hoạt động giám sát tố tụng hình sự qua các kỳ họp được thực hiện chủ yếu thông qua hai hình thức chính: xem xét báo cáo công tác của TANDVKSND, và hoạt động chất vấn, trả lời chất vấn. Đây là những phương thức giám sát công khai, dân chủ, thu hút sự quan tâm của đông đảo cử tri và dư luận. Quy trình xem xét báo cáo được thực hiện bài bản. Trước kỳ họp, các báo cáo của ngành tư pháp được gửi đến Thường trực HĐND và các Ban, đặc biệt là Ban Pháp chế, để tiến hành thẩm tra. Báo cáo thẩm tra của Ban Pháp chế cung cấp một góc nhìn độc lập, khách quan, giúp các đại biểu có cơ sở để thảo luận và đưa ra quyết định. Trong các phiên thảo luận, đại biểu tập trung vào các vấn đề như tình hình tội phạm, tỷ lệ giải quyết án, chất lượng tranh tụng tại phiên tòa, tình trạng án bị hủy, sửa, và công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực tư pháp. Hoạt động chất vấn tại diễn đàn cũng ngày càng được chú trọng, đi thẳng vào các vấn đề nóng, các vụ án phức tạp, kéo dài, gây bức xúc trong nhân dân. Việc trả lời chất vấn của người đứng đầu các cơ quan tiến hành TTHS không chỉ là giải trình mà còn là cam kết trách nhiệm trước HĐND và cử tri.

3.1. Quy trình xem xét báo cáo của TAND VKSND cùng cấp

Theo quy định, báo cáo công tác của TANDVKSND được gửi đến Đại biểu HĐND trước kỳ họp để nghiên cứu. Tại kỳ họp, sau khi người đứng đầu cơ quan trình bày báo cáo, Trưởng Ban Pháp chế sẽ trình bày báo cáo thẩm tra. Nội dung thẩm tra tập trung vào việc đối chiếu số liệu, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ, chỉ ra những ưu điểm và hạn chế. Ví dụ, qua thẩm tra, HĐND tỉnh Cà Mau đã đánh giá cao nỗ lực của ngành Kiểm sát trong công tác thực hành quyền công tố, với tỷ lệ truy tố đạt trên 99% trong những năm cao điểm. Tuy nhiên, cũng thẳng thắn chỉ ra những tồn tại như có trường hợp VKS truy tố nhưng Tòa án tuyên không phạm tội, hay việc giải quyết đơn thư còn chậm. Quy trình này đảm bảo việc đánh giá hoạt động của cơ quan tư pháp được thực hiện một cách toàn diện và có căn cứ.

3.2. Hiệu quả hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại diễn đàn

Chất vấn là công cụ giám sát sắc bén, thể hiện quyền lực của đại biểu. Tại Cà Mau, hoạt động này ngày càng đi vào thực chất. Nội dung chất vấn không còn chung chung mà tập trung vào trách nhiệm của người đứng đầu đối với các vụ việc cụ thể. Điển hình là vụ án tại Công ty Camimex, một vụ án kinh tế lớn, kéo dài nhiều năm. Tại nhiều kỳ họp, các đại biểu đã liên tục chất vấn Chánh án TAND tỉnh và Viện trưởng VKSND tỉnh về tiến độ giải quyết và các dấu hiệu tiêu cực. Sức ép từ hoạt động giám sát của HĐND đã góp phần thúc đẩy các cơ quan trung ương vào cuộc, làm rõ sai phạm và xử lý nghiêm minh các cá nhân liên quan. Điều này cho thấy, khi được thực hiện quyết liệt, chất vấn có thể tạo ra những tác động mạnh mẽ, góp phần làm trong sạch bộ máy tư pháp.

IV. Thực tiễn giám sát trực tiếp các cơ quan tố tụng Cà Mau

Bên cạnh giám sát tại kỳ họp, hoạt động giám sát trực tiếp thông qua các Đoàn giám sát chuyên đề đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc đi sâu, đi sát vào thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự. Tại Cà Mau, Thường trực HĐND và các Ban HĐND, chủ chốt là Ban Pháp chế, thường xuyên tổ chức các đoàn giám sát chuyên đề về công tác chấp hành pháp luật trong điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Hình thức này cho phép HĐND tiếp cận trực tiếp hồ sơ vụ án, làm việc với các điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và kiểm tra thực tế tại các cơ sở giam giữ. Nội dung giám sát rất cụ thể, bao gồm việc tuân thủ các quy định về bắt, giam, giữ; thời hạn giải quyết án; việc thu thập và đánh giá chứng cứ; và chất lượng tranh tụng tại phiên tòa. Qua giám sát trực tiếp, nhiều vấn đề tồn tại, hạn chế mà báo cáo tại kỳ họp không thể hiện hết đã được phát hiện. Chẳng hạn, Đoàn giám sát có thể phát hiện các vi phạm trong hoạt động tố tụng, tình trạng quá hạn tạm giam, hoặc những bất cập trong việc áp dụng pháp luật. Kết quả giám sát không chỉ là cơ sở để HĐND đưa ra các kết luận, kiến nghị xác đáng mà còn giúp chính các cơ quan tiến hành TTHS nhận diện yếu kém để kịp thời chấn chỉnh, khắc phục, nâng cao chất lượng hoạt động chuyên môn.

4.1. Đánh giá kết quả giám sát hoạt động điều tra truy tố xét xử

Giám sát của HĐND Cà Mau bao quát toàn bộ các giai đoạn tố tụng hình sự. Đối với hoạt động điều tra, giám sát tập trung vào việc chống oan sai, chống bỏ lọt tội phạm và đảm bảo quyền con người trong hoạt động bắt, giam, giữ. Đối với hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát tư pháp của VKSND, HĐND xem xét kỹ lưỡng việc phê chuẩn các quyết định tố tụng, chất lượng cáo trạng và vai trò của kiểm sát viên tại phiên tòa. Đối với hoạt động xét xử của TAND, nội dung giám sát chú trọng vào việc đảm bảo nguyên tắc tranh tụng, tính độc lập của thẩm phán và hội thẩm, và tính có căn cứ, hợp pháp của các bản án, quyết định. Qua đó, HĐND đã có nhiều kiến nghị góp phần hạn chế việc trả hồ sơ điều tra bổ sung không cần thiết, nâng cao tỷ lệ giải quyết án và giảm thiểu án bị hủy, sửa do lỗi chủ quan.

4.2. Tác động của giám sát đối với các vụ án phức tạp Vụ Camimex

Vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “cố ý làm trái” tại Công ty Camimex là một minh chứng điển hình cho hiệu quả của vai trò HĐND giám sát. Vụ án kéo dài từ năm 2003 đến 2010 với nhiều dấu hiệu bỏ lọt tội phạm. Sự quan tâm đặc biệt và các hoạt động chất vấn, giám sát quyết liệt của Đại biểu HĐND tỉnh Cà Mau đã tạo ra sức ép dư luận và chính trị mạnh mẽ. Kết quả là, các sai phạm nghiêm trọng trong quá trình giải quyết vụ án của các lãnh đạo TANDVKSND tỉnh đã bị phanh phui. “Hậu quả là phải xử lý khai trừ ra khỏi Đảng, buộc thôi việc đối với ông Trần Công Lộc, Viện trưởng VKSND tỉnh và cảnh cáo về mặt Đảng, cho thôi giữ chức Chánh án đối với ông Trương Thành Ký, Chánh án TAND tỉnh”. Vụ việc này khẳng định rằng giám sát của HĐND, khi được thực hiện đúng và quyết liệt, là một cơ chế kiểm soát quyền lực hữu hiệu, góp phần phòng chống tiêu cực trong hoạt động tư pháp.

V. Top 5 giải pháp nâng cao hiệu quả giám sát tố tụng hình sự

Để vai trò HĐND giám sát hoạt động tố tụng hình sự tại Cà Mau ngày càng hiệu quả và thực chất, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, tập trung vào cả việc hoàn thiện cơ sở pháp lý và nâng cao năng lực thực thi. Dựa trên những phân tích về thực trạng, luận văn đã đề xuất một số giải pháp mang tính chiến lược. Thứ nhất, cần hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan, đặc biệt là sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức HĐND và UBND để quy định rõ hơn về cơ chế đảm bảo thực hiện kết luận sau giám sát, gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan chịu sự giám sát. Thứ hai, phải đổi mới toàn diện về hình thức và nội dung giám sát. Thay vì giám sát dàn trải, cần tập trung vào các lĩnh vực, vụ việc trọng điểm, nhạy cảm, được dư luận quan tâm. Tăng cường giám sát chuyên đề và giám sát đột xuất. Hoạt động chất vấn cần được chuẩn bị kỹ lưỡng hơn, đi thẳng vào vấn đề và theo đến cùng việc thực hiện lời hứa của người trả lời chất vấn. Thứ ba, nâng cao chất lượng đội ngũ Đại biểu HĐND là yếu tố then chốt. Cần tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách, đặc biệt là ở các ban quan trọng như Ban Pháp chế, đồng thời thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn kiến thức pháp luật và kỹ năng giám sát chuyên sâu.

5.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm sau giám sát

Một trong những “nút thắt” lớn nhất hiện nay là hiệu lực của các kiến nghị sau giám sát. Để khắc phục, cần bổ sung vào luật các quy định mang tính chế tài. Cần quy định rõ trách nhiệm của thủ trưởng cơ quan tiến hành TTHS trong việc tiếp thu, giải trình và tổ chức thực hiện các kiến nghị của HĐND. Đồng thời, cần có cơ chế để HĐND xem xét trách nhiệm của cá nhân, tổ chức không thực hiện hoặc thực hiện không nghiêm túc kết luận giám sát. Việc pháp lý hóa trách nhiệm sau giám sát sẽ làm tăng tính quyền lực và hiệu quả thực tế của hoạt động này.

5.2. Đổi mới hình thức nội dung chất vấn và xử lý thông tin

Hoạt động chất vấn cần được đổi mới theo hướng tăng cường tranh luận, đối thoại trực tiếp. Cần “tăng cường thu thập và xử lý thông tin có liên quan đến hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS” từ nhiều nguồn, bao gồm báo cáo của các cơ quan, đơn thư khiếu nại của công dân và phản ánh của báo chí. Việc có thông tin đa chiều, chính xác sẽ giúp đại biểu đặt câu hỏi chất vấn sắc sảo, có trọng tâm. Sau chất vấn, Thường trực HĐND cần theo dõi, đôn đốc việc thực hiện các cam kết và báo cáo kết quả trước HĐND tại kỳ họp tiếp theo, đảm bảo tính liên tục và hiệu quả của giám sát.

5.3. Bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng cho Đại biểu HĐND

Chất lượng giám sát phụ thuộc rất lớn vào năng lực của chủ thể giám sát. Do đó, giải pháp “lựa chọn, cơ cấu Đại biểu, bồi dưỡng kiến thức pháp luật và kỹ năng giám sát cho Đại biểu HĐND” là vô cùng quan trọng. Cần xây dựng tiêu chuẩn cụ thể cho đại biểu, đặc biệt là các thành viên Ban Pháp chế, ưu tiên những người có trình độ chuyên môn về luật. Các chương trình bồi dưỡng cần được thiết kế chuyên sâu, cập nhật những thay đổi của pháp luật tố tụng hình sự và chiến lược cải cách tư pháp. Việc trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng sẽ giúp đại biểu tự tin, bản lĩnh hơn khi thực hiện quyền giám sát của mình.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

12/10/2025
Luận văn vai trò của hội đồng nhân dân trong việc giám sát hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự trên cơ sở các số liệu địa bàn tỉnh cà mau

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN - PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TRONG VIỆC GIÁM SÁT HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1. Cơ sở lý luận về vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS 1. Khái niệm giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS 1. Khái niệm giám sát nói chung Có nhiều định nghĩa giám sát khác nhau được đưa ra tùy theo phạm vi rộng, hẹp của nội dung nghiên cứu.

Theo Từ điển Tiếng Việt, cách hiểu chung nhất, giám sát là “theo dõi, kiểm tra việc thực thi nhiệm vụ”. Mai Hữu Khuê, Bùi Văn Nhơn trong Từ điển giải thích thuật ngữ hành chính lại coi giám sát là “sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế, nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm chỉnh [15]. Đặng Đình Tân cho rằng giám sát là “sự theo dõi, quan sát hoạt động của một chủ thể quyền lực mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để bắt buộc và hướng hoạt động của các tổ chức quyền lực chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, đúng quy chế nhằm giới hạn quyền lực, đảm bảo cho pháp luật được tuân thủ nghiêm minh” [30]. Quan điểm này gần giống với quan điểm của Mai Hữu Khuê, Bùi Văn Nhơn, có chăng chỉ bổ sung thêm một số điểm về chủ thể có quyền lực.

5 Ban Công tác lập pháp thuộc Uỷ ban Thường vụ Quốc hội (hiện Ban này đã được giải thể) có đưa ra khái niệm “giám sát dưới góc độ ngôn ngữ thông thường được hiểu là: việc theo dõi, xem xét, kiểm tra của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để qua đó có được nhận định về hoạt động của chủ thể này” [1]. Cả bốn quan điểm trên đều thống nhất về cách thức tiến hành hoạt động giám sát, đó là việc theo dõi, xem xét, kiểm tra. Đây cũng là cách hiểu mang tính cơ bản trong quan điểm thứ nhất. Riêng quan điểm của TS.

Đặng Đình Tân và Ban Công tác lập pháp bổ sung thêm “chủ thể có quyền lực”. Đây là yếu tố rất quan trọng bởi giám sát thể hiện mối quan hệ giữa chủ thể giám sát với đối tượng giám sát. Mối quan hệ giữa chúng phải được xây dựng trên cơ sở mối quan hệ quyền lực, chủ thể giám sát phải có quyền với đối tượng giám sát. Quyền ở đây phải là quyền quyết định, quyền tác động đến đối tượng bị giám sát, ví dụ: quyền bãi nhiệm, miễn nhiệm, quyền hủy bỏ văn bản quy phạm pháp luật, phê bình, kỷ luật… Nói cách khác, đối tượng bị giám sát phải biết “sợ” chủ thể giám sát.

Đây chính là tiền đề dẫn đến việc chủ thể giám sát sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế. Các biện pháp tác động tới đối tượng giám sát như việc Quốc hội, HĐND bãi bỏ một phần hay toàn bộ văn bản quy phạm pháp luật; hoặc định hướng hoạt động của đối tượng giám sát như việc Quốc hội, HĐND ban hành nghị quyết về chất vấn, trả lời chất vấn, các kiến nghị từ hoạt động giám sát của Hội đồng dân tộc, Ủy ban của Quốc hội, Ban của Quốc hội hay Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam… Các kiến nghị này không có giá trị bắt buộc thi hành nhưng sẽ tác động tới hành vi của đối tượng bị giám sát. Việc xác định chủ thể tiến hành giám sát và đối tượng bị giám sát là 6 cần thiết nhằm làm rõ hoạt động giám sát với hoạt động có tính chất gần tương tự là kiểm tra, xem xét, theo dõi. Theo đó, giám sát là hoạt động được thực hiện bởi chủ thể nằm bên ngoài tổ chức, hệ thống.

Tức là cá nhân, tổ chức, cơ quan này giám sát cá nhân, tổ chức, cơ quan khác trong việc thực hiện nhiệm vụ của nó. Khi phân biệt hoạt động giám sát với thanh tra, TS. Đặng Đình Tân và nhóm tác giả cũng đưa ra quan điểm tương tự “Giám sát là một hoạt động kiểm soát quyền lực nhưng là sự kiểm soát từ bên ngoài đối với các nhánh quyền lực Nhà nước”. Theo đó, hoạt động theo dõi, kiểm tra chỉ có thể coi là hoạt động giám sát nếu chủ thể và đối tượng giám sát nằm trong hai hệ thống độc lập (một cách tương đối) với nhau.

Như vậy, giám sát là sự theo dõi, quan sát, kiểm tra hoạt động của chủ thể có quyền đối với chủ thể khác để biết được đối tượng bị giám sát có thực thi đúng, đủ theo quy định hay không và quy định về hành vi đối tượng giám sát phải và được làm có phù hợp với điều kiện thực tiễn hay không và làm rõ được nguyên nhân của sự vi phạm, sự không phù hợp này. Theo khái niệm này thì một trong những căn cứ quan trọng để xác định đối tượng giám sát của HĐND là có mối quan hệ mang tính quyền lực giữa HĐND và đối tượng bị giám sát. Đối tượng bị giám sát phải chịu trách nhiệm trước HĐND, HĐND có quyền tác động trực tiếp tới đối tượng bị giám sát. Theo Từ điển luật học thì giám sát là sự theo dõi, quan sát mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực, để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được thực hiện từ trước, bảo đảm cho pháp luật được thực hiện nghiêm minh.

Giám sát có những hình thức mang tính kỹ thuật, là sự quan sát, theo dõi quy trình, quy phạm trong quá trình sản xuất hay trong đầu tư xây dựng, quản lý môi trường… theo những tiêu chuẩn và quy phạm kỹ thuật nghiêm 7 ngặt. Nhưng cũng có hình thức giám sát mang tính chất kinh tế - chính trị - xã hội - pháp luật, là sự quan sát, theo dõi về việc thực hiện các chế độ chính sách, pháp luật của Nhà nước. Các hình thức giám sát trên có quan hệ mật thiết với nhau nhằm phục vụ cho các mục tiêu phát triển. Khái niệm giám sát của HĐND HĐND nước ta là cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương, có nhiệm vụ ban hành các nghị quyết về các biện pháp bảo đảm thi hành nghiêm chỉnh Hiến pháp và pháp luật ở địa phương; quyết định những vấn đề quan trọng ở địa phương như kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, về ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương và các biện pháp nhằm ổ định và nâng cao đời sống của người dân, hoàn thành mọi nhiệm vụ cấp trên giao, làm tròn nghĩa vụ với Nhà nước; thực hiện quyền giám sát đối với các cơ quan Nhà nước ở địa phương.Giám sát là một trong những nhiệm vụ hiến định của HĐND.

Giám sát của HĐND là thực hiện sự ủy quyền của nhân dân để giám sát hoạt động của bộ máy Nhà nước, là một hình thức thực hiện quyền giám sát của nhân dân được thực hiện bằng pháp luật, thông qua cơ quan quyền lực Nhà nước là HĐND các cấp. Từ các khái niệm chung về giám sát trên, căn cứ đối tượng giám sát của HĐND, có thể hiểu khái niệm giám sát của HĐND như sau: Giám sát của HĐND là hoạt động có mục đích, thường xuyên, liên tục của HĐND nhằm quan sát, theo dõi, kiểm tra, phát hiện, uốn nắn việc tuân theo pháp luật, chấp hành Nghị quyết HĐND đối với Thường trực HĐND, UBND, TAND, VKSND cùng cấp, của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và của công dân địa phương theo quy định của pháp luật. Như vậy, giám sát của HĐND thực chất là hoạt động nhằm kiểm soát thực thi quyền lực Nhà nước. Giám sát chứa đựng những yếu tố thuộc tính 8 của công tác kiểm tra, kiểm soát và thanh tra.

Trong quá trình giám sát, chủ thể giám sát có quyền tiếp cận mọi đối tượng, mọi văn bản, hồ sơ theo yêu cầu giám sát. Khái niệm giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS Căn cứ vào khái niệm giám sát nói chung và các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003 và các văn bản pháp luật khác, giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS có thể được hiểu như sau: giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS là tổng thể các hoạt động theo dõi, xem xét, đánh giá của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban HĐND và Đại biểu HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS trong việc thi hành Hiến pháp và pháp luật, từ đó đưa ra các kết luận và kiến nghị về các giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát huy những mặt ưu điểm trong quá trình hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS. Vai trò giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS Giám sát của HĐND đối với hoạt động của các cơ quan tiến hành TTHS được thực hiện thông qua nhiều phương thức hoạt động của HĐND như xem xét báo cáo công tác, xem xét việc trả lời chất vấn, xem xét văn bản quy phạm pháp luật, thành lập Đoàn giám sát. trong đó xem xét báo cáo công tác thường được coi là phương thức phổ biến và có hiệu quả nhất của hoạt động giám sát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ