phần mở đầu, kết luận, danh mục tài tiệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chương , 7 tiết. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN TRONG GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO 1. Đội ngũ giảng viên - bộ phận đặc thù của trí thức giáo dục đại học 1. Quan niệm về trí thức GDĐH Trí thức là thuật ngữ có nguồn gốc từ tiếng Latinh: "Intelligentia" ("Intelligens" là thông minh, có trí tuệ, có hiểu biết).
"Intelligentia" là trí lực, trí thức. Trong suốt tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, thuật ngữ trí thức đã được tiếp cận ở nhiều khía cạnh. Do vậy, quan niệm về trí thức cũng rất phong phú ở mỗi thời đại và từng giai đoạn lịch sử. Hiện nay trên thế giới, theo thống kê có hơn 60 định nghĩa về trí thức.
Tiếp cận thuật ngữ trí thức ở khía cạnh phương thức lao động, cơ cấu, thành phần, theo từ điển Triết học (năm 1986): "Trí thức là tập đoàn xã hội; gồm những người làm nghề lao động trí óc. Giới trí thức bao gồm kỹ sư, kỹ thuật viên, thầy thuốc, luật sư, nghệ sĩ, thầy giáo và người làm công tác khoa học, một bộ phận lớn viên chức" [82, tr. Từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học (năm 1986) viết: "Trí thức - một nhóm xã hội, bao gồm những người chuyên làm nghề lao động trí óc phức tạp và có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó [83, tr. Lênin quan niệm: Trí thức "bao hàm không những chỉ những nhà trước tác mà thôi, mà còn bao hàm tất cả mọi người có học thức, các đại biểu của những nghề tự do nói chung, các đại biểu của lao động trí óc" [48, tr.
10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: "Lao động trí óc là ai? Là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ, những người làm bàn giấy. có nhiệm vụ rất quan trọng trong sự nghiệp kháng chiến kiến quốc, trong công cuộc hoàn thành cách mạng dân chủ mới để tiến lên chủ nghĩa xã hội" [56; tr. Nhấn mạnh tiêu chí về tính chất lao động, TS Nguyễn Thanh Tuấn cho rằng: "Tầng lớp trí thức là tầng lớp hoạt động sáng tạo các giá trị tinh thần và vật chất cho xã hội và do loại hình lao động trí óc phức tạp mà bắt buộc họ phải có một trình độ học vấn cần thiết ngày càng cao" [77; tr. TS Phan Thanh Khôi nhận định: "Trí thức là lao động trí óc phức tạp hao phí năng lượng thần kinh trung ương nhiều hơn cả trong quá trình làm việc".
Những quan niệm không hoàn toàn giống nhau về thuật ngữ trí thức nêu trên cho phép chúng ta khẳng định tính chất phong phú về phương pháp tiếp cận thuật ngữ này. Nhưng nhìn chung, những định nghĩa trên đều đề cập đến các đặc trưng cơ bản của trí thức: là một tầng lớp xã hội; lao động trí óc; có trình độ học vấn, chuyên môn cao; có nhiệm vụ sáng tạo các giá trị tinh thần và vật chất cho xã hội. Với cách tiếp cận tiêu chí nghề nghiệp, tính chất lao động, về vai trò, nhiệm vụ của trí thức, tác giả luận văn cho rằng: Trí thức là tầng lớp những người lao động trí tuệ sáng tạo, có trình độ học vấn, chuyên môn cao, có khả năng phát triển, truyền bá, ứng dụng những tri thức khoa học vào đời sống xã hội, góp phần thúc đẩy sự phát triển của mỗi quốc gia cũng như toàn nhân loại. Trí thức Việt Nam có cơ cấu, thành phần đa dạng.
Trong đó, trí thức GD - ĐT là một bộ phận, "một lực lượng xã hội, một nhóm xã hội - nghề nghiệp đặc thù, một đội ngũ nghề nghiệp của trí thức Việt Nam" [72; tr. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Khái niệm GD - ĐT được tổng hợp từ nghĩa của hai từ giáo dục và đào tạo. Giáo dục là "tất cả các hoạt động và tác động có mục đích, có kế hoạch hướng vào sự hình thành và phát triển nhân cách, bao gồm năng lực (tri thức, kỹ năng, kỹ xảo.); phẩm chất (niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, hành vi, thói quen, đạo đức) ở con người, thông qua các hoạt động giao tiếp giữa nhà giáo dục và người được giáo dục". Đào tạo là “quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức nhằm đạt được các kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo trong lý thuyết và thực tiễn, tạo ra năng lực để thực hiện thành công một hoạt động xã hội (nghề nghiệp) cần thiết" [72; tr.
Như vậy, GD - ĐT được hiểu là quá trình hoạt động, tác động có mục đích, có tổ chức của nhà giáo dục trang bị những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; hình thành và rèn luyện phẩm chất cho người học để mỗi người thực hiện tốt ngành nghề, nhiệm vụ của mình. Trí thức GD - ĐT là "những người trí thức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, có chức năng chủ yếu là trực tiếp truyền bá tri thức văn hóa, rèn luyện nhân cách cho người học, nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước" [72; tr. Sự nghiệp GD - ĐT ở nước ta được đảm bảo thực hiện thông qua hệ thống giáo dục quốc dân, bao gồm: Giáo dục mầm non, Giáo dục phổ thông, Giáo dục nghề nghiệp, GDĐH. GDĐH bao gồm tất cả các loại hình học tập, đào tạo hoặc đào tạo cho nghiên cứu, được bảo đảm ở trình độ sau trung học bởi một cơ sở đại học hoặc được những nhà chức trách có thẩm quyền công nhận như một cơ sở đại học.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com GDĐH có hai bậc: Đại học và sau đại học. GDĐH là cơ sở đào tạo nhân lực trình độ cao, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trí thức GDĐH là những người trực tiếp tham gia công tác GD - ĐT ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân (bậc đại học), bao gồm: Cán bộ quản lý, cán bộ nghiên cứu, CBGD góp phần đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước và tiến trình hội nhập. Với tư cách là một bộ phận của trí thức Việt Nam, trí thức GDĐH là những người tiêu biểu cho lớp trí thức xã hội chủ nghĩa, họ mang trong mình đầy đủ những tố chất cơ bản của người trí thức nói chung: lao động trí óc sáng tạo, ý thức dân tộc cao, có tinh thần yêu nước, cần cù, thông minh, năng động và nhạy bén với sự vận động, biến đổi của thời đại.
Ngoài ra tính đặc thù trong lĩnh vực hoạt động (GD - ĐT) đã quy định một số đặc trưng cơ bản cho đội ngũ trí thức GDĐH. Họ là lực lượng đóng vai trò "kép": vừa là nhà giáo, nhà khoa học, nhà chính trị. Lao động sáng tạo của đội ngũ trí thức GDĐH liên quan trực tiếp đến con người. Đó là quy trình tác động đến con người nhằm nhận thức và cải biến đối tượng.
Do vậy, sản phẩm lao động sáng tạo của họ là các giá trị tinh thần - nhân cách con người. Điều này tạo nên tính khó khăn, phức tạp, tính đặc biệt trong phương thức lao động của họ. Trí thức GDĐH là lực lượng đại biểu cho hầu hết các ngành khoa học của quốc gia: khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn. Như vậy, trí thức GDĐH là sự hội tụ của nhiều yếu tố trong quan hệ biện chứng với nhau: phương thức lao động là lao động trí tuệ sáng tạo; hoạt 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động trên lĩnh vực GD - ĐT ở bậc cao nhất trong hệ thống giáo dục quốc dân; trình độ học vấn tốt nghiệp đại học trở lên; có trình độ chuyên môn sâu; sản phẩm lao động sáng tạo của họ là sự phát triển toàn diện con người; mục đích hoạt động nghề nghiệp của họ là đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao, đáp ứng mục tiêu tạo động lực để tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững xã hội.
Phần lớn trí thức GDĐH là nhà giáo - giảng viên hay còn được gọi là CBGD. Do vậy, ĐNGV là bộ phận quan trọng, đặc thù của trí thức GDĐH nói chung. Đặc điểm của ĐNGV Giảng viên là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực GD - ĐT đặc biệt là GDĐH. Luật Giáo dục nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (tháng 12/1998) tại điều 91 nêu rõ khái niệm nhà giáo "là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác.
Nhà giáo phải có những tiêu chuẩn sau: phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn, nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lý lịch bản thân rõ ràng. Nhà giáo dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp gọi là giáo viên; ở cơ sở giáo dục đại học và sau đại học gọi là giảng viên". Tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch công chức bậc đại học, đã chỉ rõ: "Giảng viên có chức trách là công chức chuyên môn đảm nhiệm việc giảng dạy và đào tạo ở bậc đại học, cao đẳng thuộc một chuyên ngành đào tạo của trường đại học hoặc cao đẳng". Như vậy, giảng viên là nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy trong các trường đại học, cao đẳng.
Họ không chỉ có nhiệm vụ truyền thụ tri thức khoa học; hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho sinh viên mà họ còn là những người "dạy sinh viên cách học và cách đưa ra sáng kiến cho công việc", hình thành 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và phát triển năng lực, phẩm chất cho sinh viên nhằm đạt mục tiêu: "Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, có tri thức, có sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội". Mỗi giảng viên không chỉ hoạt động nghề nghiệp với tư cách là cá nhân riêng lẻ, mà họ còn là thành viên trong tập thể các nhà giáo, là lực lượng cấu thành ĐNGV. Theo từ điển tiếng Việt, "đội ngũ là khối đông người cùng chức năng nghề nghiệp được tập hợp và tổ chức thành một lực lượng" [84; tr.