Chương 1: Giới thiệu Chương này sẽ mô tả sự cần thiết phải thực hiện nghiên cứu, vấn đề nghiên cứu, ý nghĩa nghiên cứu… đặc biệt nêu bật lên việc các chính sách Nhà nước thu hồi rất đa dạng, khác nhau trong nhiều thời kỳ. Nghiên cứu này chỉ làm rõ thêm về sự khác biệt trong trường hợp Nhà nước thu hồi đất khu vực nông thôn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn Chương này khái quát các lý thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu, tổng quan hệ thống về các chính sách liên quan đến thu hồi đất của Việt Nam, các Luận án tiến sĩ Kinh tế 11 yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế của người dân, hành vi ra quyết định của hộ gia đình nông thôn, vai trò của vốn con người trong việc xây dựng các chiến lược sinh kế của hộ gia đình và phương pháp nghiên cứu trong việc đánh giá các tác động của chính sách. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ trình bày về khung phân tích của luận án, trình bày chi tiết các bước tiến hành và phương pháp nghiên cứu cho từng mục tiêu cụ thể.
Chương 4: Sự thay đổi về các tài sản sinh kế của các hộ gia đình khu vực nông thôn thành phố Cần Thơ trước và sau quá trình thu hồi đất Chương này sẽ mô tả sự thay đổi của năm nhóm tài sản sinh kế (vốn tự nhiên, vốn con người, vốn vật chất, vốn xã hội và vốn tài chính) của ba nhóm hộ gia đình (hộ bị thu hồi đất bởi dự án khu dân cư vượt lũ, hộ bị thu hồi đất bởi dự án đường cao tốc và các hộ không bị thu hồi đất) khu vực nghiên cứu trước và sau khi bị thu hồi đất. Chương 5: Đánh giá tác động của thu hồi đất khu vực nông thôn đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình Chương này sẽ mô tả và giải thích sự thay đổi về cấu trúc các nguồn thu nhập của các hộ gia đình từ các hoạt động nông nghiệp và phi nông nghiệp: làm công hưởng lương thời vụ, hưởng lương chính thức, tự kinh doanh và thu nhập khác sau hai đến bốn năm kể từ khi bị thu hồi đất và cho thấy các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu các nguồn thu nhập của hộ gia đình. Đồng thời, chương 5 sẽ phân tích sự thay đổi trong chi tiêu hộ gia đình trước và sau khi bị thu hồi đất, đánh giá tác động của thu hồi đất khu vực nông thôn đến thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình trong giai đoạn từ hai đến bốn năm sau khi bị thu hồi đất. Chương 6: Vai trò của vốn con người trong việc hình thành các chiến lược sinh kế và ảnh hưởng đến kết quả sinh kế của hộ gia đình nông thôn trong tình huống tổn thương do thu hồi đất Luận án tiến sĩ Kinh tế 12 Phần này được bắt đầu bằng việc cung cấp các thông tin về sự thay đổi nghề nghiệp của của các thành viên trưởng thành của hộ gia đình.
Phần tiếp theo sẽ phân tích vai trò của vốn con người trong việc hình thành các chiến lược sinh kế của hộ gia đình và cuối cùng là phân tích ảnh hưởng của vốn con người với các kết quả sinh kế của hộ gia đình trong bối cảnh tổn thương. Chương 7: Kết luận và kiến nghị Dựa trên kết quả phân tích ở các chương 4,5 và 6, chương 7 sẽ kết luận lại các nội dung đã nghiên cứu, đề xuất các giải pháp và kiến nghị chính sách phù hợp cho quá trình hoạch định và phát triển các dự án liên quan đến thu hồi đất phục vụ lợi ích công ở Việt Nam nói chung và Thành phố Cần Thơ nói riêng. Luận án tiến sĩ Kinh tế 13 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN Chương này sẽ bắt đầu bằng việc trình bày khái quát các lý thuyết có liên quan đến nội dung nghiên cứu, các lược khảo về chính sách thu hồi đất ở Việt Nam, hành vi ra quyết định của hộ gia đình, sinh kế hộ gia đình, khu vực nông thôn và vốn con người. Tiếp đó, là khung lý thuyết về đánh giá tác động và cuối cùng là xem xét mối quan hệ giữa đất đai và sinh kế hộ gia đình nông thôn: nhìn từ các nghiên cứu thực nghiệm.1 Đất đai, sở hữu đất đai và thu hồi đất Ở mọi quốc gia, mọi thời đại, đất đai luôn được xem là tài sản cực kỳ quan trọng.
Đất đai là một trong những nguồn lực khan hiếm. Đất đai cũng là một trong những thành phần của tài sản tự nhiên, có vai trò quan trọng trong hình thành và quyết định sinh kế của cư dân nông thôn, và nhất là đối với nông dân. Trong bối cảnh đất chật, người đông và ngành công nghiệp, dịch vụ ở các vùng đô thị chưa phát triển mạnh thì ngành nông nghiệp vẫn còn tạo ra phần lớn việc làm; và nông thôn vẫn là vùng có phần lớn cư dân cư trú. Vì vậy, đất đai có vai trò trung tâm trong xã hội nông thôn, và có vai trò quyết định đối với sinh kế của hộ gia đình nông dân và cư dân nông thôn.
Việt Nam là quốc gia có truyền thống lâu đời về nền nông nghiệp lúa nước thì đất đai nói chung, đặc biệt là đất ở khu vực nông thôn đóng vai trò thiết yếu đến sinh kế của người dân. Như nhiều tài sản khác, việc xác lập quyền sở hữu đối với đất đai rất quan trọng đối với việc quản lý, khai khác và sử dụng một cách hiệu quả.1 Sở hữu và sử dụng đất đai ở Việt Nam Sau hội nghị Genève năm 1954, Miền Nam đặt dưới quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, công nhận quyền tư hữu trong sở hữu đất đai. Với mục tiêu củng cố quyền lực chính trị bằng những chính sách “phân chia ruộng đất”, “Luật người cày có ruộng” của các đời tổng thống nối tiếp nhau, đã dần chia bớt ruộng của các địa chủ về người nông dân. Đến trước năm 1975, số địa chủ ở Luận án tiến sĩ Kinh tế 14 miền Nam chỉ còn chiếm 0,17% số hộ và 0,41% ruộng đất trong khi nông dân chiếm tới trên 70% dân số và sở hữu 80% ruộng đất.
Tầng lớp trung nông thực sự chính là bộ phận nắm giữ quyền sở hữu ruộng đất. Tại Miền Bắc, từ năm 1945- 1958, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục công nhận quyền tư hữu trong đất đai của giai đoạn kháng chiến chống Pháp, thừa nhận đất đai của địa chủ, chỉ tiến hành giảm tô, giảm tức và chia ruộng đất của đế quốc, tay sai cho dân cày, chia lại công điền công thổ hợp lý. Sau khi ban hành luật “Cải cách ruộng đất” năm 1953 và đặc biệt là giải phóng hoàn toàn Miền Bắc, Nhà nước không công nhận quyền sở hữu ruộng đất của địa chủ và đem chia cấp cho nông dân cá thể, chủ yếu là trung, bần nông (Nguyễn Văn Khánh, 2013). Sau năm 1959, Nhà nước xác nhận có 3 hình thức sở hữu đất đai là sở hữu Nhà nước (sở hữu toàn dân), sở hữu tập thể (sở hữu hợp tác xã) và sở hữu của người lao động riêng lẻ (sở hữu tư nhân).
Khuyến khích hình thức sở hữu Nhà nước và sở hữu tập thể, còn sở hữu tư nhân bị tiêu giảm dần. Như vậy trên danh nghĩa là sở hữu toàn dân, sở hữu tập thể do hợp tác xã quản lý, xã viên (người dân) chỉ là người làm thuê cho hợp tác xã. Sau năm 1975, khi thống nhất đất nước, quyền tư hữu về đất đai ở Miền Nam không được duy trì do Nhà nước triển khai phong trào cải tạo nông nghiệp theo đúng mô hình hợp tác xã nông nghiệp ở miền Bắc. Hậu quả là sản xuất nông nghiệp rơi vào tình trạng khủng hoảng rất nghiêm trọng.
Sản lượng lương thực bình quân một vụ chỉ đạt 20,3 tạ/ha (Nguyễn Đức Khả, 2003). Từ năm 1986 về sau, dù không công nhận quyền tư hữu về đất đai nhưng Nhà nước đã dần dần tăng các quyền tài sản trên đất đai cho người dân. Khởi đầu từ việc giao khoán đất đai cho hộ gia đình sử dụng (năm 1986); sau đó công nhận đất đai có giá và giá đất do Nhà nước quy định. Các hộ gia đình, cá nhân có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp đất đai.
Chỉ áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất bắt buộc để tạo đất cho các dự án đầu tư phát triển. Tổ chức kinh tế chỉ có thể tiếp cận đất đai bằng cách thuê đất của Nhà nước (năm 1993); hay công nhận giá đất đai trên thị trường (năm 2003). Luận án tiến sĩ Kinh tế 15 Bảng 2.1: Sự phát triển của luật pháp và chính sách có liên quan tới đất đai Văn bản Năm Những điểm chính liên quan đến đất đai pháp luật Hiến pháp Điều 12: Quyền sở hữu cá nhân về tài sản của người dân Việt Nam 1946 đầu tiên được bảo đảm. Luật cải cách Quyền sở hữu ruộng đất chuyển trực tiếp từ tay địa chủ sang tay 1953 ruộng đất người nông dân tá điền Điều 11: Công nhận sở hữu Nhà nước (hay sở hữu toàn dân), sở hữu tập thể, sở hữu cá nhân và sở hữu tư sản dân tộc đối với các tư Hiến pháp 1959 liệu sản xuất chủ yếu, bao gồm đất đai.
Sở hữu ruộng đất của nông thứ 2 dân được công nhận nhưng khuyến khích hình thức sở hữu hợp tác xã. Chỉ có sở hữu toàn dân được công nhận (điều 19), đất đai do Nhà Hiến pháp 1980 nước thống nhất quản lý (điều 20). Nhà nước giao và thu hồi đất thứ 3 đai theo kế hoạch. Quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân được bảo đảm.
Tất cả Luật Đất đai 1987 các giao dịch đất đai đều thực hiện theo quyết định của Nhà nước, thứ 1 đất không có giá trị, thị trường đất đai chưa được công nhận Tiếp nhận nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đất Hiến pháp đai thuộc sở hữu toàn dân (Điều 17), đất đai do Nhà nước quản lý 1992 thứ 4 và Nhà nước giao đất cho các tổ chức và hộ gia đình, cá nhân sử dụng (Điều 18) Sở hữu toàn dân về đất đai, nhưng đất đai được công nhận là có giá và giá đất do Nhà nước quy định. Các hộ gia đình, cá nhân có Luật Đất đai quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, cho thuê và thế chấp 1993 thứ 2 đất đai. Chỉ áp dụng cơ chế Nhà nước thu hồi đất bắt buộc để tạo đất cho các dự án đầu tư phát triển.