Chương 1 VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG 1. Vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý 1. Khái niệm trợ giúp pháp lý Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb. Khoa học xã hội, 1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý”.
Ngoài ra, trong một số tài liệu khác dịch "Legal aid" là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc “hỗ trợ tư pháp”. Như vậy, có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ này. Xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “Legal aid” trên thế giới và thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid” được dịch là“trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật và nhiều tài liệu chính thống khác ở nước ta hiện nay. Trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi nguồn từ nước Anh và đã có một lịch sử hơn 500 năm.
Ngay từ thế kỷ 15, pháp luật Anh quốc đã quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho. Năm 1495, vua Henry VII trong một nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: "chính nghĩa" cần được dành chung cho người nghèo và những người thực hiện quyền tự do họ được hưởng - điều đó không có gì thay thế được. Tuy nhiên, trước thế kỷ 20, TGPL mới manh nha tại các nước vì khi đó nhà nước tư bản phát triển rất mạnh, phúc lợi xã hội kém, TGPL mới chỉ dừng lại ở ý tưởng của một số nhà chính trị tiến bộ, chứ chưa triển khai có tổ chức. Ở một số nước châu Âu theo hệ thống luật án lệ như ở Anh, thì xuất phát từ yêu cầu phải có luật sư bảo vệ và quyền được xét xử công bằng, xuất phát từ công lý đòi hỏi nhằm tránh những vụ án oan nên ban đầu là các luật sư với nghĩa vụ bảo đảm công lý đã giúp các bên trên cơ sở tự nguyện, thiện nguyện.
9 Luan van Theo quy tắc và hướng dẫn của Liên hợp quốc về tiếp cận TGPL trong hệ thống tư pháp hình sự thì thuật ngữ TGPL bao gồm hoạt động tư vấn pháp luật, giúp đỡ và đại diện cho người bị giam giữ, người bị bắt hoặc tù nhân, người bị tình nghi hoặc bị buộc tội hoặc phạm tội hình sự và cho nạn nhân, nhân chứng trong quá trình tư pháp hình sự miễn phí cho những người có điều kiện kinh tế khó khăn hoặc theo yêu cầu của công lý. Hơn nữa, TGPL cũng bao hàm cả khái niệm giáo dục pháp luật, tiếp cận thông tin pháp lý và cung cấp các dịch vụ khác cung cấp cho mọi người, tuy nhiên không phải thực hiện độc lập mà thông qua cơ chế giải quyết tranh chấp và quá trình tư pháp phục hồi. Ở nước ta, TGPL ra đời khá muộn so với lịch sử nền tư pháp Việt Nam. Hoạt động này được nghiên cứu từ năm 1995 và ra đời vào những năm cuối của thế kỷ XX (1997) trên nền tảng những thành tựu phát triển của những năm đầu đổi mới, sự kiểm nghiệm thành công của những định hướng đúng đắn được vạch ra trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội và sự phát triển của dịch vụ pháp lý.
Cùng với việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân; nhu cầu giúp đỡ pháp luật của nhân dân ngày một tăng đã trở thành động lực quan trọng mang tính quyết định thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hoạt động TGPL. Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đối tượng chính sách, thành lập Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp. Theo đó, Cục TGPL được thành lập thuộc Bộ Tư pháp, vừa có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về TGPL, vừa trực tiếp thực hiện TGPL trong trường hợp cần thiết. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung tâm TGPL trực thuộc Sở Tư pháp được thành lập để tham mưu cho Ủy ban nhân 10 Luan van dân tỉnh quản lý và thực hiện hoạt động TGPL tại địa phương.
Và cũng chính trong Quyết định này, thuật ngữ TGPL được sử dụng chính thức tuy nhiên, phải đến khi Luật TGPL năm 2006 ban hành thì khái niệm TGPL mới được đề cập một cách chính thức (tại Điều 3). Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạt động TGPL của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay và thực tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa ra quan niệm chung về TGPL một cách đầy đủ, thể hiện những đặc trưng cơ bản của nó. Theo quan niệm chung hiện nay thì TGPL được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội bằng các hình thức tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng, hoà giải. cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và thực hiện công bằng xã hội.
Theo Điều 2 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 thì TGPL được hiểu là việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc TGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật [10] .Với tính chất toàn diện và đầy đủ như vậy, luận văn sử dụng định nghĩa này là định nghĩa xuyên suốt trong toàn bộ nội dung của luận văn. Việc thành lập tổ chức TGPL miễn phí cho người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng có hoàn cảnh đặc biệt khác ở Việt Nam xuất phát từ chủ trương xoá đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa, đảm bảo công bằng xã hội của Đảng và Nhà nước, thể hiện bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Tổ chức TGPL của Nhà nước ra đời đã tạo cơ chế cần thiết để người nghèo và người có công với cách mạng có được điều kiện và hoàn cảnh tương tự như người khác trong tiếp cận với 11 Luan van các dịch vụ pháp lý, củng cố lòng tin của quần chúng nhân dân vào pháp luật và góp phần thực hiện công bằng xã hội. Đặc điểm của hoạt động trợ giúp pháp lý - Là một loại hình dịch vụ công đặc biệt: + Với tư cách là một trong những chức năng xã hội của nhà nước và trách nhiệm của nhà nước, trong hoạt động TGPL, người thực hiện TGPL hoàn toàn không được nhận bất kỳ khoản thù lao, lợi ích vật chất nào từ người được TGPL, mà hoạt động này chỉ hướng đến mục tiêu xóa đói giảm nghèo về mặt pháp luật, nâng cao nhận thức pháp luật và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng được TGPL.
+ Người thực hiện TGPL: Bao gồm những người đáp ứng đủ điều kiện, tiêu chuẩn riêng, theo quy định tại Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, người thực hiện TGPL gồm có: "- Trợ giúp viên pháp lý; - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; - Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý; - Cộng tác viên trợ giúp pháp lý." [10] Nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL và phát triển công tác này theo hướng chuyên nghiệp hóa, Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa, nâng cao tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư tham gia thực hiện TGPL. - Là hoạt động có tính chính trị, có tính pháp lý và có tính kinh tế + Tính chính trị: 12 Luan van Trong hoạt động TGPL, Nhà nước giữ vai trò nòng cốt, thể hiện định hướng chính trị, chính sách xã hội của Nhà nước ta. TGPL vừa là biện pháp tăng cường pháp chế, vừa góp phần thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa thông qua bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho các đối tượng này, đảm bảo công bằng xã hội, quyền bình đẳng khi tiếp cận pháp luật của các đối tượng. + Tính pháp lý: Thể hiện qua việc quy định từ cơ cấu tổ chức đến hoạt động của tổ chức, từ đối tượng được TGPL đến người thực hiện TGPL, đặc biệt là việc quy định trình tự thủ tục phải tuân thủ và đảm bảo thực hiện khi thực hiện TGPL cho các đối tượng.
+ Tính kinh tế: Hoạt động TGPL không thu phí đối với đối tượng được TGPL, các Trung tâm TGPL thuộc Sở Tư pháp là đơn vị sự nghiệp không có thu của Nhà nước, tuy nhiên giá trị kinh tế của hoạt động lại thể hiện ở việc Nhà nước thông qua việc cung ứng tài chính cho hoạt động TGPL, qua đó sẽ góp phần giữ ổn định xã hội, tránh được những chi phí dành cho việc khiếu kiện kéo dài, từ đó tạo tâm lý ổn định cho người dân an tâm lao động, sản xuất tạo ra của cải, là tiền đề để tạo ra giá trị kinh tế vô cùng to lớn. - Là dịch vụ công được xã hội hóa: Thể hiện ở việc Nhà nước đã tạo ra cơ chế để các cá nhân, tổ chức khi có đủ điều kiện theo quy định pháp luật có thể tham gia thực hiện TGPL thông qua việc cho phép các tổ chức được đăng ký tham gia TGPL tự nguyện bằng chính nguồn lực của cá nhân, tổ chức đó hoặc thông qua việc ký hợp đồng với các tổ chức này để đáp ứng cầu TGPL bằng nguồn lực được chi trả từ ngân sách nhà nước. - Đối tượng được trợ giúp pháp lý: 13 Luan van Theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, thì đối tượng được TGPL bao gồm: "- Người có công với cách mạng. - Người thuộc hộ nghèo.
- Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. - Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. - Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.