Chương 1 NHỮNG VẪN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI VÀ VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG BẢO VỆ QUYỀN CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI TRONG TTHS 1. Khái niệm về người bị buộc tội và quyền của người bị buộc tội theo tố tụng hình sự Việt Nam 1. Khái niệm và đặc điểm của người bị buộc tội Hiện nay, Pháp luật TTHS Việt Nam chưa có khái niệm thống nhất về người bị buộc tội. Hiến pháp năm 2013 khẳng định một người được coi là chưa có tội khi chưa có bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật của Tòa án.
Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật”. Tuy nhiên, có rất nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng người bị buộc tội, thời điểm được coi là bắt đầu và kết thúc của sự buộc tội. Quan điểm thứ nhất: Người bị buộc tội là “người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Với quan điểm thi hành án không phải là một khâu trong chuỗi các hoạt động tố tụng hình sự mà cần tách ra thành một hệ thống pháp luật riêng, ngành khoa học để nghiên cứu riêng [7].
Quan điểm thứ hai: đối tượng bị buộc tội chỉ có thể là bị can, bị cáo. Những người tham gia tố tụng khác không thể là đối tượng bị buộc tội. Buộc tội chỉ tồn tại trước khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật [13]. Quan điểm thứ ba: Người bị buộc tội là “Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”.
Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là các tên gọi khác nhau của người bị buộc tội ở các giai đoạn tố tụng khác nhau [18]. Điểm đ khoản 1 Điều 4 BLTTHS 2015 qui định: “Người bị buộc tội gồm: “Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. - Người bị bắt, người bị tạm giữ: Pháp luật hiện hành không qui định người bị bắt là người nào, tuy nhiên, trên thực tế người bị bắt được hiểu là người có dấu hiệu thực hiện hành vi phạm tội, bị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định bắt giữ 5 theo qui định pháp luật, đó là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, người bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang và người bị bắt theo quyết định truy nã. BLTTHS 2015 định nghĩa người bị tạm giữ như sau: khoản 1 Đều 59: “Người bị tạm giữ là người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, bị bắt trong trường hợp phạm tội quả tang, bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ”.
Người bị bắt, người bị tạm giữ là người tham gia tố tụng, giữ vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Họ là những người bị buộc tội, bị nghi ngờ là đã thực hiện hành vi vi phạm pháp luật được BLHS quy định là tội phạm. Họ có thể chưa bị khởi tố (trong trường hợp bị bắt khẩn cấp, phạm tội quả tang, tự thú…) hoặc có thể đã bị khởi tố (trong trường hợp họ có lệnh truy nã hoặc đã bị khởi tố mới ra đầu thú) tại thời điểm bị bắt hoặc bị tạm giữ. Kể từ thời điểm người bị bắt hoặc tạm giữ, họ bị cách ly với xã hội trong một khoảng thời gian nhất định, từ đó quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ phát sinh theo qui định pháp luật.
Việc bắt, tạm giữ để đảm bảo các hoạt động xác định các dấu hiệu cấu thành tội phạm của cơ quan THTT xuất phát từ việc tiếp cận người bị bắt, người bị tạm giữ. Từ đó hoạt động TTHS được phát sinh như: hoạt động đối chiếu, xác minh, thu thập chứng cứ… để củng cố cơ sở pháp lý và thực tiễn; xác định người bị bắt, người bị tạm giữ có thực hiện hành vi vi phạm pháp luật không, hành vi đó có đủ cấu thành tội phạm không. Đây cũng là căn cứ để cơ quan THTT quyết định có khởi tố bị can hay không. Người bị bắt, người bị tạm giữ trong giai đoạn này chưa bị coi là tội phạm nhưng là tiền đề xác định các chủ thể tham gia tố tụng hình sự trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo và làm phát sinh các quan hệ pháp luật giữa người bị bắt, người bị tạm giữ với các chủ thể khác trong TTHS.
- Bị can: “là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”, (khoản 1 Điều 60 BLTTHS). Trường hợp CQĐT có đủ căn cứ xác định người bị bắt, người bị tạm giữ đã thực hiện hành vi phạm tội, CQĐT ra quyết định khởi tố bị can. Kể từ thời điểm này, người hoặc pháp nhân bị khởi tố hình sự trở thành bị can, bị truy cứu trách nhiệm 6 hình sự, có thể bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế như: tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, hỏi cung, kê biên tài sản ….
Các biện pháp cưỡng chế trong gia đoạn tố tụng này nghiêm khắc hơn, quyền của bị can bị hạn chế hơn so với quyền của người bị bắt, người bị tạm giữ. - Bị cáo: “là người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Quyền và nghĩa vụ của bị cáo là pháp nhân được thực hiện thông qua người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”. Khi có quyết định xét xử của Tòa án, bị can trở thành bị cáo.
Với tư cách là người bị buộc tội, họ là người tham gia tố tụng có vị trí pháp lý bất lợi nhất bởi tất cả các hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khác đều hướng tới việc chứng minh bị cáo có tội hay không có tội. Trong giai đoạn tố tụng này, bị cáo có thể bị hạn chế một phần hoặc toàn bộ quyền của mình và có nguy cơ phải chịu hậu quả pháp lý nghiêm khắc nhất từ hoạt động buộc tội của các chủ thể. Như vậy, BLTTHS 2015 đã qui định cụ thể đối tượng bị buộc tội là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, tùy từng giai đoạn tố tụng khác nhau trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, người buộc tội có tên gọi khác nhau. Cụ thể: khi mới bị bắt giữ, người bị buộc tội được gọi là người bị bắt, kể từ thời điểm bị khởi tố bị can thì người bị buộc tội được gọi là bị can, kể từ thời điểm có quyết định đưa vụ án ra xét xử thì người bị buộc tội được gọi là bị cáo.
Trong tố tụng hình sự, tuy người bị buộc tội là đối tượng bị buộc tội hoặc bị nghi ngờ phạm tội nhưng họ không bị coi là người có tội, họ có quyền tự mình bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa cho mình theo qui định của BLTTHS 2015: Điều 13 “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này qui định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”, Điều 16 “Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa” và qui định tại khoản 4 Điều 31 Hiến pháp năm 2013 “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. 7 Từ những phân tích nêu trên, chúng tôi đồng tình với quan điểm thứ ba: Người bị buộc tội là “Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo”. Người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là các tên gọi khác nhau của người bị buộc tội ở các giai đoạn tố tụng khác nhau. Dựa trên khái niệm người bị buộc tội nêu trên, người bị buộc tội có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, người bị buộc tội là người bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội được qui định trong BLHS.
Trường hợp một tổ chức hoặc cá nhân không thực hiện hành vi phạm tội hoặc không có căn cứ xác định hành vi đó có dấu hiệu phạm tội cụ thể được qui định trong BLHS thì CQĐT, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng không thể buộc tội họ. Cơ sở xác định người bị buộc tội trong trường hợp một người bị nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội phải thỏa mãn các yếu tố: đủ tuổi chịu TNHS, có năng lực trách nhiệm hình sự và có đủ căn cứ xác định hành vi đó có dấu hiệu phạm tội theo qui định pháp luật hình sự. Thứ hai, các quyết định của cơ quan THTT, người có thẩm quyền THTT xác định người bị buộc tội là chủ thể của quan hệ pháp luật TTHS. Ví dụ, đối với người bị tạm giữ thì phải có quyết định tạm giữ, đối với bị can thì phải có quyết định khởi tố bị can, đối với bị cáo phải có quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án có thẩm quyền.
Các quyết định tố tụng này là căn cứ xác định chủ thể bị buộc tội là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can hay bị cáo trong từng giai đoạn TTHS khác nhau. Từ đó, BLTTHS qui định chủ thể bị buộc tội có những quyền chung và quyền riêng. Thứ ba, người bị buộc tội là người tham gia tố tụng trong quan hệ pháp luật TTHS. Khi các quyết định TTHS xác định người bị buộc tội, thì họ trở thành chủ thể tham gia tố tụng trong TTHS với tư cách là người tham gia tố tụng.
Qua đó xác định được người bị buộc tội có địa vị pháp lý cụ thể, được pháp luật TTHS qui định quyền và nghĩa vụ của họ. Với tư cách là người tham gia tố tụng, người bị buộc tội là một chủ thể tham gia tố tụng, có địa vị pháp lý cụ thể, được pháp luật bảo đảm các quyền con người cơ bản. Người bị buộc tội là chủ thể tham gia tố tụng xuyên suốt các giai đoạn TTHS, là quá trình xác định người bị buộc tội là có tội hay không có tội, nếu có tội thì đó là tội gì và phải chịu mức hình phạt như thế 8 nào.