mở đầu từ Mạc phủ Kamakura, từ cuối thế kỉ XII cho đến tận nửa cuối thế kỉ XIX, võ sĩ đã trở thành tầng lớp thống trị chủ yếu ở Nhật Bản. Các võ sĩ thuở ban đầu xuất phát từ tầng lớp trung lưu nên trong thời kỳ đầu tiên và lúc mới xuất hiện với vai trò là một giai cấp trung lưu thì họ ít quan tâm về văn học nghệ thuật nói chung. Ý nghĩa sống của võ sĩ là nằm nơi lưỡi gươm cùng sự hầu hạ chủ, nhờ đó mà võ sĩ tự nuôi sống mình cùng gia đình. Trong điều kiện chế độ trang viên và lãnh chúa hùng mạnh tại Nhật Bản với các trận chiến đấu cát cứ triền miên của những lãnh chúa với nhau và giữa những lãnh chúa địa phương với chính quyền phong kiến trung ương thì yêu cầu căn bản của lãnh chúa với võ sĩ chính là bằng lòng trung thành cùng sự tận tuỵ hầu hạ.
Ngược lại, lòng trung thành cùng sự hết lòng phục vụ chủ của các võ sĩ cũng là điều kiện cơ bản để từ đấy võ sĩ dễ dàng dành lấy sự bảo chở của chủ cả về mặt vật chất và tâm tình đối với vợ con và bản thân. Dần dần, các tiêu chí và điều kiện làm nên sự gần gũi và hài hoà lợi ích trong tương quan lãnh chúa với võ sĩ sẽ tạo nên các phẩm chất đặc trưng, điển hình và nổi bật của giai cấp võ sĩ được biểu hiện theo một mức độ nhất định. Đó là võ sĩ đạo ( Bushido ) “nghĩa đen là con đường của chiến binh. Trong rất nhiều chuẩn mực, phép tắc, quan niệm của võ sĩ đạo thì tiêu chuẩn bao trùm nhất, cơ bản nhất của người võ sĩ là sự phục tùng và lòng trung thành vô hạn đối với chủ của mình.
Xã hội phong kiến Nhật Bản thời kỳ Mạc phủ Tokugawa, xét trên phương diện cấu trúc giai cấp được hình thành trên tinh thần cấp bậc Phong kiến (Tống nho) theo thứ tự từ trên xuống, từ cao đến thấp là: Sĩ – nông – binh – thương. Về danh nghĩa các quan lại phong kiến cung đình thuộc triều đại Thiên hoàng tại Kyoto có chức vị cao nhất trong xã hội. Nhưng thực tế thì họ không có thế lực và địa vị nên bị lệ thuộc tuyệt đối ở Mạc phủ. Đẳng cấp sĩ là tầng lớp quý tộc quân đội “Vũ gia (buke) có lợi thế quyền hành khắp cả nước.
Trong võ gia còn chia ra tầng lớp daimyo (lãnh chúa) đại thần của Mạc phủ, và những samurai (bushi) thần thuộc 16 không có ruộng đất. Trong lịch sử, quan hệ Mạc phủ - lãnh chúa có vị trí rất lớn trong hệ thể chế chính trị - xã hội thời kỳ Tokugawa”. Căn cứ theo quan hệ với Tướng quân của dòng họ Tokugawa mà những lãnh chúa được chia làm ba loại khác nhau. Thứ nhất là loại Shimpan daimyo, tức là những daimyo có quan hệ ruột thịt với dòng họ Tokugawa.
Có khoảng dưới 20 daimyo thuộc loại này và được tướng quân rất tin tưởng. Đứng đầu nhóm Shimpan daimyo là “Ngự tam gia (no san ken). Nguyên là, lúc Tokugawa Ieyasu lên ngôi vị Tướng quân đã xác lập người con trưởng ở Edo làm tướng quân, rồi đem ba xứ Owari, Kii và Mito chia cho ba người con thứ làm lãnh địa và được quyền tập hưởng đất đai bảo hộ nên xưng là Ngự tam gia”. Ba han có những vị trí quân sự trọng yếu bảo hộ cho Edo, đây cũng là căn cứ lựa chọn người giữ chức vụ tướng quân nếu người con thứ tại Edo không có người kế thừa.
Thứ hai là các Fundai daimyo. “Tokugawa Ieyasu đã lấy việc ai ủng hộ hoặc chống đối ông trong trận Sekigahara vào năm 1600 làm tiêu chí để phân biệt dối xử với các daimyo còn lại. Fundai daimyo là những daimyo chư hầu chư hầu bồi thần trực tiếp hoặc đồng minh của họ Tokugawa trong trận Sekigahara. Fundai daimyo cũng được Tướng quân tin tưởng dù không cao bằng Shimpan daimyo.
Có ít nhất 150 daimyo thuộc loại này”. Lãnh địa của Tướng quân, “của các Shimpan daimyo, của Fundai daimyo thường ở miền Đông Nhật Bản, ở vùng kinh đô và những vị trí quan trọng nhất của đất nước, tạo thế vững chắc cho chính quyền Mạc phủ. Các quan đại thần của Mạc phủ sẽ được tuyển trong những loại daimyo này. Loại daimyo thứ ba được gọi là Tozama daimyo.
Đó là những daimyo chống đối lại Tokugawa Ieyasu trước và trong trận Sekigahara, hoặc chỉ thần phục Mạc phủ sau đó. Có tới trên 80 daimyo thuộc loại này. Các Tozama daimyo cũng giàu mạnh không thua kém các Shimpan daimyo và Fundai daimyo, nhưng bị Mạc phủ phân biệt đối xử như thể là những kẻ tranh chấp lâu dài và hiểm nguy. Lãnh địa của họ tương đối rộng, nhưng chủ yếu là các nơi xa xôi nhất trên vùng đảo Kyushu, Shikoku, và miền nam đảo Honshu, hoặc trong thế cài răng lược với những thuộc địa của Fundai daimyo nhằm dễ bề kiểm soát.
Các Tozama daimyo không được tham gia điều hành chính quyền trung ương. Tại những nơi có nhiều lãnh địa của họ 17 thì Mạc phủ có thể xây những thành trì và giao quyền quản lí những công tác ảnh hưởng của chính quyền trung ương cho những lãnh chúa khác như Nagasaki chẳng hạn nhằm ngăn chặn những Tozama daimyo lập đồng minh với Mạc phủ. Đặc biệt là sau chiến thắng tại trận Sekigahara khoảng từ năm 1600 đến năm 1602 Tokugawa Ieyasu đã ra lệnh thu hồi phần lớn đất đai của những Tozama daimyo và di dời chỗ trú ngụ của một số daimyo khác. Lãnh địa của những Tozama daimyo giàu hơn như: Mori, Iesugi, Satake, và Akita đã bị thu hồi hầu hết ruộng đất.
Chỉ có hơn 60 daimyo là thuộc loại không bị tịch thu lãnh địa. Trong một thời hạn ngắn ngủi có khoảng chừng 1/2 những lãnh địa đã đổi chủ sở hữu. Điều này dĩ nhiên kéo theo hậu quả là võ sĩ chư hầu chủ bị hoá trở thành Ronin. Trong đẳng cấp võ sĩ thì đa phần những võ sĩ lớp dưới dù luôn được coi là thuộc về tầng lớp thống trị hay nắm nhiều quyền cao tuy nhiên trên thực tế họ cũng đều là những kẻ thần thuộc vào tầng lớp võ sĩ cao cấp hay có nhiều quyền lợi chính trị và xã hội mà thôi.
Võ sĩ lớp dưới thường sinh sống tại các khu vực biệt lập và khó có khả năng liên lạc với lãnh chúa”. Họ cũng đảm nhiệm những công việc làm cận vệ hay lo việc lặt vặt như thư ký hay trợ lý,. Còn những võ sĩ lớp trung thì cũng có dịp được diện kiến lãnh chúa và được giao phó các trọng trách cao hơn nữa và cũng có lẽ vì vậy họ sẽ được nhận số tiền lương hay mức trợ cấp cao hơn so với những võ sĩ lớp dưới. Vì vậy, việc đạt được chức vị cao luôn là mong muốn của mọi võ sĩ.
Việc thăng tiến không những đem tới vinh quang và danh tiếng cho các võ sĩ cùng gia tộc mà còn kèm theo đó chính là lợi ích kinh tế cùng nhiều đặc quyền xã hội khác nhau. Do nắm vững các quyền chính trị và là kẻ đứng đầu nền chính trị phong kiến lại có toàn quyền phân cấp đất đai cho nên Tướng quân Tokugawa đã chiếm lĩnh và khai thác được nguồn tài nguyên kinh tế quốc gia. Đến cuối thời kỳ Edo: “tổng sản lượng lương thực mỗi năm của Nhật Bản là 30 triệu Koku, chỉ riêng các khoảng thu nhập trực tiếp và gián tiếp. Tướng quân đã có khoảng 6,8 triệu Koku thóc chiếm 22% tổng sản lượng lương thực quốc gia.
18 Ngoài ra, chính quyền Edo cũng có quyền thống trị trực tiếp những đô thị chủ chốt cũng là những trung tâm kinh tế quan trọng: “Edo, Kyoto, Nagasaki, Osaka và khai thác những mối lợi thương mại như khai thác những mỏ quặng giàu bao gồm mỏ vàng trên đảo Sado và Izu, mỏ bạc tại Iwami và khu khai thác đồng tại Ashio”. Mạc phủ cũng có thẩm quyền in tiền và phát hành tiền tệ. Thời Edo, những loại tiền chứa hợp kim vàng, bạc và đồng của Nhật Bản không những được sử dụng như công cụ trao đổi tại nội địa mà còn được người nước ngoài rất ưa thích do có hàm lượng kim loại quý tương đối cao. Tuy nhiên, sự cố hoả hoạn thành Edo 1657 đã khiến cho Mạc phủ phải tiêu tốn một lượng tiền khổng lồ vào việc khôi phục lại ngôi kinh thành trọng yếu bậc nhất này.
Cùng với các biến chuyển xã hội, điển hình là việc phát triển của kinh tế sản xuất hàng hoá và ngành công nghiệp tiền tệ thì kinh tế ngoại thương tuy cũng có sự tăng trưởng tốt hơn tuy nhiên vẫn diễn ra chậm hơn so với xu thế phát triển chung. Mạc phủ Edo đã rơi vào trình trạng bế tắc nền kinh tế. Đến cuối thế kỷ XVIII, chính quyền Tokugawa đã phải thực hiện hàng loạt biện pháp để đảo ngược tình hình kinh tế như cải tổ chính sách thuế quan và phát triển công nghiệp nặng, thúc đẩy khai khẩn, khuyến khích tiêu dùng và sử dụng thêm phương pháp đổi tiền. Nhưng thực chất không có chính sách hay giải pháp nào đem tới hiệu quả tốt.
“Khảo cứu tích luỹ và chi tiêu mỗi năm của chính quyền Tokugawa thời Bunka (1804 – 1817) và thời Bunsei (1818 – 1829) đến thời Tempo (1830 – 1843), chính quyền vẫn phải dùng ngân sách để bù đắp lại sự lạm chi. Cụ thể, khoản phụ thêm của chính quyền cho chi phí hàng năm so với thu nhập thực tế như sau: trong các năm từ 1811 đến 1833, phải chi thêm ít nhất 220.000 ryo5 cùng với việc mua thêm 25.000 koku thóc và giữa năm 1834 đến năm 1836 là 590.000 ryo cộng thêm việc phải mua 10. Đến cuối thời Tokugawa, nguồn lực tài chính của Mạc phủ đã suy yếu rõ rệt không còn đủ khả năng để quản lý đất nước một cách hữu hiệu nữa. Cùng với chính quyền trung ương, lãnh chúa các han,đặc biệt là bộ phận võ sĩ lớp dưới, lớp trung 5 Ryo là đơn vị tiền vàng.
Thời Edo, 1ryo tương đương với khoảng 60 momme bạc. 1 momme bạc là 3. 1ryo mua được 0. 19 phải đương đầu với những thách thức kinh tế gay gắt.
Sự tăng trưởng của kinh tế thương nghiệp cùng các ngành kinh kinh doanh tiền tệ đã làm đảo lộn trật tự xã hội truyền thống. Thương mại và công nghiệp ngày càng đóng vai trò quan trọng trong đời sống kinh tế quốc dân. Thành thị thực sự đã trở thành những trung tâm thương mại, sản xuất, tài chính của cả nước. Thương nhân – thị dân xuất hiện ngày càng nhiều và chính họ đã nắm giữ nguồn lực tài chính lớn của cả nước.