Chương 1 XÁC LẬP CƠ SỞ CỦA LÝ LUẬN Cơ sở của lý luận là gì? N ặng với nhẹ, dài với ngắn, tốt với xấu, tất cả đều là những khái niệm tương đối sinh ra từ sự so sánh. Nếu không có nhẹ thì sẽ không có nặng; nếu không có tốt tất cũng không có xấu. Vì vậy nhẹ là do so sánh với nặng, và tốt là do so sánh với xấu, nếu không so sánh cái này với cái kia thì sẽ không bàn luận được chuyện nặng nhẹ hay tốt xấu vậy. Những tiêu chí mà dựa vào đó một thứ được xác định là nặng hơn hay tốt hơn có thể được gọi là cơ sở của lý luận.
Tục ngữ cũng có câu “lưng không thay được bụng”, với cả “bỏ mận giữ đào”[4]. Vậy nên với cơ thể con người, thì người ta phải bảo vệ phần bụng cho bằng được, cho dù có phải trả giá bằng vết thương ở lưng đi chăng nữa, vì phần bụng quan trọng hơn phần lưng. Hoặc khi nói về động vật, vì chim hạc thì to và quý hơn cá chạch, nên lấy cá chạch làm thức ăn cho hạc thì cũng không gây hại gì. Một ví dụ khác, thời kỳ Edo, tầng lớp Daimyō (lãnh chúa) và võ sĩ được bổng lộc mà không phải lao động, sau khi chế độ ấy được thay đổi như thời Minh Trị bây giờ, thì nhìn bề ngoài dường như việc tước bỏ quyền sở hữu tài sản của họ đã đẩy họ đến chỗ trắng tay cùng quẫn.
Tuy nhiên, nếu so sánh đất nước Nhật Bản với từng phiên, thì sẽ thấy quốc gia là quan trọng, còn phiên thì không. Việc bãi bỏ chế độ phiên cũng tương tự như chuyện bụng thì quan trọng hơn lưng, và việc cưỡng đoạt thu nhập của lãnh chúa hay võ sĩ cũng không khác gì chuyện giết cá chạch để làm mồi nuôi chim hạc vậy. Khi khảo sát về các sự vật hiện tượng, điều cần thiết là phải gạt bỏ hết những thứ không cơ bản, tìm về chính cội nguồn của chúng. Có làm như vậy thì các chi tiết mới có thể xếp hạng được theo những nguyên tắc chung, và do đó chính cơ sở lý luận cũng có thể được củng cố chắc chắn hơn.
Newton trong khi khám phá ra thuyết vạn vật hấp dẫn, thoạt đầu đã chứng minh nguyên lý về quán tính (định luật đầu tiên về chuyển động) là: nếu một vật bắt đầu chuyển động, nó sẽ tiếp tục chuyển động không ngừng nghỉ, còn nếu như nó dừng lại, nó sẽ ở yên trong trạng thái ấy mà không di chuyển cho đến khi có ngoại lực tác động. Từ khi ông chứng minh sáng rõ định luật này thì các nguyên lý về sự chuyển động của toàn bộ vật thể trong vũ trụ đều phải tương thích với nó. Một “định luật” như vậy có thể gọi là nền tảng của chân lý. Nếu không có định luật như vậy, khi tranh luận về các nguyên lý chuyển động, các ý kiến về vấn đề này sẽ khác biệt nhau mãi.
Tàu thuyền sẽ có nguyên lý chuyển động của tàu thuyền, xe cộ lại có một nguyên lý khác của xe cộ. Số lượng các sự vật hiện tượng cần lý giải cứ tăng lên, mà định luật căn bản để thống nhất chúng với nhau thì không có. Và nếu không có một nguyên lý tối hậu nào đó, thì sẽ không điều gì có thể chứng minh được một cách chắc chắn. Do đó, nếu ban đầu không xác lập được cơ sở của lý luận thì chúng ta cũng sẽ không thể bàn luận được cái đúng, cái sai, ưu điểm, nhược điểm của bất cứ vấn đề nào.
Thành quách đối với bên phòng thủ là “lợi”, nhưng đối với bên tấn công là “hại”. Cái “được” của kẻ địch chính là cái “mất” của bên ta. Cái thuận tiện cho người đi, có thể trở thành cái bất tiện với người trở về. Cho nên khi bàn về chuyện lợi-hại, được-mất của sự vật hiện tượng, trước hết phải xác định cái quan điểm mà căn cứ vào đó ta mới bàn luận; như kẻ phòng thủ, hay là như kẻ tấn công.
Dù là gì đi nữa thì trước tiên ta vẫn phải xác định cho được cái cơ sở để dựa vào đó mà bàn luận. Từ xưa đến nay, trong lịch sử nhân loại luôn tồn tại vô số những kiến giải xung khắc với nhau. Khi quay về với gốc rễ của chúng thì ta sẽ thấy rằng những cách kiến giải đó vốn khác nhau về lập trường ngay từ đầu, và điều đó giải thích tại sao chúng lại mâu thuẫn khi đi đến những kết luận cuối cùng. Ví dụ về Thần đạo và Phật giáo, tôn chỉ của hai tôn giáo này luôn luôn bất hòa với nhau; dù nếu ta chỉ nghe chủ trương của mỗi một phía, thì sẽ thấy cả hai đều tuyệt vời.
Nhưng khi suy nghĩ về gốc rễ của chúng, ta sẽ thấy lập trường của chúng khác hẳn nhau: Thần đạo giảng về sự cát hung ở hiện tại, còn Phật giáo thuyết về thưởng phạt ở kiếp sau (vị lai). Tiêu chí của lý luận đã khác nhau như vậy, nên rốt cuộc hai tôn giáo này chẳng có điểm chung. Giữa những nhà Nho học và Quốc học cũng diễn ra tranh luận, và phần lớn kiến giải của họ mâu thuẫn nhau. Vấn đề chia rẽ hai trường phái này, suy cho cùng, là việc phái Nho học coi việc lật đổ hôn quân của Thang Võ[5] là đúng, trong khi phái Quốc học - lại đề cao tư tưởng vạn thế nhất hệ (một họ muôn đời) của Thiên hoàng.
Đây là điểm duy nhất khiến cho các nhà Nho học khó chịu. Như vậy có thể thấy nếu không quay về gốc rễ mà chỉ bàn luận ở phần ngọn của sự việc thì đệ tử Thần đạo, Nho giáo và Phật giáo sẽ không bao giờ ngừng tranh cãi. Tranh luận của họ, cũng hệt như chuyện đem cung tên, kiếm và thương ra so xem cái nào tốt hơn, sẽ không bao giờ có kết luận cuối cùng. Còn nếu muốn hòa giải cả hai phía thì không có cách nào khác ngoài việc phải chỉ ra được một chủ thuyết mới, tiến bộ hơn hẳn những giáo lý cũ, buộc học giả của mỗi trường phái phải tự so sánh, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu của cả thuyết cũ và thuyết mới.
Tranh luận “cung tên, kiếm và thương, binh khí nào tốt hơn” cũng hệt như vậy, ngày xưa diễn ra rất sôi nổi, nhưng từ khi súng trường được đưa vào sử dụng, không còn thấy ai tranh cãi về ba món binh khí này nữa.[6] Tại sao các lý luận lại không ăn nhập nhau Khi tiền đề ban đầu của hai người đã khác nhau, thì trong những điều họ nói vẫn có thể có những sự giống nhau ở vẻ bề ngoài, tuy nhiên, khi người ta đẩy họ về xuất phát điểm ban đầu, thì tới một mức độ nào đó, bọn họ sẽ ai đi đường nấy. Hai kẻ có vẻ rất cùng quan điểm về điểm lợi, điểm hại trong nhiều chủ đề khác nhau, nhưng khi ta xem xét kỹ hơn nền tảng lập luận của bọn họ, thì quan điểm của họ liền chia rẽ sang các hướng khác biệt. Chẳng hạn, tất cả những võ sĩ samurai cứng đầu ai cũng như ai đều căm ghét người nước ngoài. Cả những vị học giả, hoặc những người có chút kiến thức khi nhìn thấy cách hành xử của người ngoại quốc chắc chắn cũng không ưa gì bọn họ.
Và chừng nào mà những vị học giả này không hài lòng với những kẻ ngoại quốc, chừng ấy ta có thể cho rằng ý kiến của họ cũng không khác gì ý kiến của những võ sĩ cứng đầu kia. Tuy nhiên, khi bàn đến nguồn cơn tại sao họ lại bất bình với người nước ngoài, thì ta sẽ thấy hai luồng ý kiến bắt đầu khác nhau. Một nhóm thì chỉ coi người nước ngoài là một giống người khác, và không quan tâm anh ta hay dở ra sao mà chỉ thuần túy là căm ghét. Nhóm người còn lại dẫu sao cũng có tầm nhìn rộng hơn, không có sự căm ghét hay không ưa chung chung đối với người nước ngoài, nhưng đã nhận ra những hệ lụy tai hại trong việc giao dịch với bọn họ, và cảm thấy căm phẫn khi thấy những người nước ngoài tự cho mình là “văn minh” kia đối xử bất công với người Nhật Bản.
Cả hai nhóm đều có cùng cảm xúc căm ghét một số người nước ngoài, nhưng vì nguyên nhân dẫn đến sự căm ghét của họ khác nhau nên cách đối đãi với người nước ngoài của họ cũng khác biệt. Tóm lại, những người theo “chủ nghĩa bài ngoại”[7] và những người theo “chủ nghĩa mở cửa”[8], tuy lập luận có thể giống nhau, nhưng đến điểm nào đó thì sẽ thấy họ chia rẽ chính bởi những tiền đề căn bản của họ. Ngay cả khi mọi người tham gia các hoạt động vui chơi, giải trí, cho dù tất cả có thể có cùng những kinh nghiệm như nhau, nhưng nhiều người lại có cảm giác thích và không thích khác hẳn nhau. Cho nên chớ vội vàng phán xét về tâm tính bên trong của một người nếu chỉ nhìn vào bề ngoài cái hành động nhất thời của người ta.
Hoặc khi mọi người tranh luận về chuyện ủng hộ hay phản đối một sự việc nào đó, họ lại thường bắt đầu bằng cách đem ra hai lập luận đối lập cực đoan nhất; làm cho việc tranh luận của hai bên bị chia rẽ ngay từ đầu, và không giúp cho các bên có thể tiến đến gần nhau. Hãy để tôi thử lấy một ví dụ. Hiện nay nếu có người đề cập đến một chủ thuyết mới “mọi người ai nấy đều có quyền bình đẳng”, thì ai đó trong phái bảo thủ nghe vậy đã lập tức cho đó chính là chủ trương cho “chế độ dân chủ”[9]. Anh ta liền chất vấn: “Nếu chủ trương chế độ dân chủ ở Nhật Bản hiện nay thì nhà nước của chúng ta sẽ ra sao? Rốt cuộc đất nước cũng sẽ rơi vào vòng xoáy hỗn loạn khó lường mà thôi.” Họ lo lắng tình hình (nếu lập chế độ dân chủ) lập tức sẽ sinh đại loạn khi không có quân vương hoặc chính phủ, như thể tình trạng hỗn loạn chính trị khủng khiếp sẽ xảy ra.
Ngay từ khi khởi đầu tranh luận họ đã tưởng tượng ra một viễn cảnh xa xôi, rồi chỉ biết một mực phủ định người khác mà không lắng nghe xem như thế nào là “mọi người ai nấy đều có quyền bình đẳng”, không cần hỏi xem tôn chỉ của tư tưởng mới đó ra sao. Ở phía đối lập, người chủ trương thuyết mới này cũng coi người bảo thủ là thù địch, và có khiên cưỡng mấy cũng quyết phủ định thuyết cũ cho bằng được. Lập luận của họ luôn ở thế đối đầu với các kẻ địch, cho nên suy nghĩ của họ không bao giờ gặp nhau.