mở đầu là vai trò của sư Vạn Hạnh và sự vận động lên ngôi của vua Lý Công Uẩn. Những tiền đề về xã hội và tư tưởng Trong thế kỷ X, Nhà nước độc lập mới được xây dựng, đang dần dần tự củng cố, vua phải chuẩn bị đương đầu với những cuộc chiến tranh xâm lược từ bên ngoài, vừa phải đối phó với những yếu tố phân tán cát cứ ở trong nước. Trong bối cảnh đó, tất nhiên, bạo lực và quân sự là ứng xử trội của các ông vua và bộ máy nhà nước. Song cũng thật kỳ lạ, đó cũng là thời kỳ bước đầu phát triển mạnh mẽ của Phật giáo.
Chính những ông vua từng “đặt vạc dầu giữa sân, nuôi hổ báo trong cũi” để trấn áp mọi chống đối, lại ủng hộ Phật giáo. Đến cuối thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo đã lan khắp mọi miền của xứ An Nam đô hộ phủ. Không chỉ ở Giao Châu, tức miền lưu vực sông Hồng, mà đến tận Ái Châu, Hoan Châu, tức đất Thanh Nghệ xưa. Nhưng khu vực Phật giáo phát triển mạnh nhất là vùng Bắc Sông Hồng, ngoài những trung tâm Phật giáo lâu đời như Luy Lâu (Thuận Thành, Hà Bắc), Kiến Sơ (Phù Đổng, Gia Lâm), trên đất Bắc Giang bấy giờ đã có rất nhiều chùa.
Chỉ trong Châu Cổ Pháp (thời Lý đổi thành phủ Thiên Đức) đã có nhiều chùa nổi tiếng như Kiến Dương ở Hương Hoa Lâm, chùa Thiên Chúng và chùa Lục Tổ ở Dịch Bảng, ở Hương Phù Ninh, Chùa Cảm Ứng trên núi Ba Sơn (Tiên Sơn). 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời kỳ này cũng đã xuất hiện những lớp cao tăng người Việt, trong đó nhiều người đã đến Trung Quốc, xuống Nam Dương, sang Ấn Độ, hiểu rộng biết nhiều, kiêm thông Hán Phạn, có thể coi là những tri thức đương thời. Lực lượng Phật giáo, các nhà sư và các tín đồ, đã thực sự tham gia vào cuộc vận động giải phóng dân tộc, đứng vào hàng ngũ nhân dân chống áp bức, giành lại nền độc lập cho đất nước. Trong thế kỷ X, cũng có những trung tâm Phật giáo mới.
Trước hết phải nói đến trung tâm Đại La, mà sau này thời Lý là Thăng Long. Ở đây từ thế kỷ VI, Lý Nam Đế đã cho dựng chùa Khai Quốc (chùa Trấn Quốc) ở Hà Nội ngày nay. Cho đến giữa thế kỷ X, chùa này là nơi trụ trì của thiền sư Vân Phong, người thuộc thế hệ thứ ba của dòng thiền Vô Ngôn Thông, học trò của Vân Phong là Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu, vị tăng thống thời Đinh, đã cho mở mang chùa Khai Quốc, biến nơi đây trở thành một trung tâm truyền thụ Phật giáo. Sách Thiền Uyển tập Anh chép rằng khi đại sư Khuông Việt mở rộng Phật học ở Chùa Khai Quốc, chùa Đa Bảo, người đến dự học.
Khi Hoa Lư được xây dựng thành Kinh đô của đất nước trong hai triều Đinh và Lê thì nhiều ngôi chùa đã được xây dựng như: chùa Tháp là ngôi chùa cổ mà nay chỉ còn thấy di tích nền cũ ở ven sông Hoàng Long; chùa Nhất Trụ ở Hoa Lư hiện nay không còn giữ được dấu vết gì của kiến trúc cổ; chùa Bà Ngô ở Hoa Lư tương truyền cũng được xây dựng từ thời Đinh, tấm bia đá thời Nguyễn ở chùa này có ghi: Chùa Bà Ngô trong ấp ta là một danh lam ở đô cũ nước Cồ Việt. Như vậy, sự hình thành những trung tâm Phật giáo mới đã nói lên sự ảnh hưởng của Phật giáo trong xã hội. Nho Giáo cũng được truyền vào nước ta từ rất sớm nhằm mục đích đồng hóa, nhưng việc đào tạo, dạy chữ nghĩa cho đại đa số quần chúng nhân dân lại được tiến hành ở các ngôi chùa, do đó tăng ni không chỉ làm công việc dạy chữ và truyền giáo lý đạo Phật mà họ góp phần củng cố ý thức cộng đồng cho người dân đất Việt. 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về phương diện văn hóa tư tưởng người Việt có một tín ngưỡng đặc sắc là tục thờ cúng tổ tiên.
Khi du nhập vào Việt Nam Phật giáo không những không bị bài xích mà còn được dân chúng hoan nghênh. Việc một văn hóa mới được chấp nhận phụ thuộc rất nhiều vào tính cách của người dân bản địa. Đối với người Việt Nam tính cách đó được hình thành trên nền văn hóa lúa nước. Công việc trị thủy là yếu tố khách quan cần có sự hợp sức của tập thể, điều đó dần hình thành nên tính cách làng xã của người Việt.
Phật giáo Đại thừa với tư tưởng tự giác giác tha, giác hạnh viên mãn đã bồi đắp thêm tinh thần đoàn kết cộng đồng làng xóm và khi có giặc xâm lăng nó phát triển thành tinh thần yêu nước. Có thể nói với hệ thống giáo lý cao siêu nhưng lại gần gũi với con người, Phật giáo và hình ảnh của Đức Phật đã hòa nhập vào tâm hồn, tình cảm của người dân Việt Nam đặc biệt là sau khi dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi được truyền bá vào Việt Nam năm 580 và dòng thiền Vô Ngôn Thông được du nhập từ Trung Quốc năm 820. Đối với xã hội bình dân, hình ảnh Phật giáo được chuyển hóa thành những bậc thần linh. Ví như, Phật Mẫu Man Nương là một cô gái bình dị nơi thôn quê đã trở thành một vị Phật trong tín ngưỡng dân gian của người Việt.
Truyền thuyết kể rằng năm 12 tuổi bà Man Nương (Phật Mẫu Man nương) đến theo học đạo ở chùa Linh Quang, Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Tại chùa có thiền sư Khâu Đà La là một vị cao tăng đầu tiên sang Việt Nam truyền đạo và ông đã trao cho bà Man Nương cây gậy và dặn khi nào hạn hán thì đem gậy cắm xuống đất để cứu nhân dân. Khi vùng Dâu bị hạn hán ba năm liền, nhớ đến lời dặn của ông, Man Nương đã đem cây gậy thần cắm xuống đất. Ngay lập tức nước phun lên, cây cối, ruộng đồng lại tươi tốt và chúng sinh thoát nạn hạn hán.
Ở Chùa Dâu (Bắc Ninh) có bốn vị thần Mây (Pháp Vân), thần Sấm (Pháp Lôi), thần Sét (Pháp Điện) và thần Mưa (Pháp Vũ) của cư dân trông lúa nước cũng được chuyển hóa thành bốn vị Phật (Pháp Vân, Pháp Lôi, Pháp 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điện và Pháp Vũ) được gọi chung là Tứ Pháp, an vị ở bốn Chùa chùa Dâu, Đậu, Tướng, Dàn (ở Thuận Thành, Bắc Ninh). Cảnh loạn lạc do cuộc chiến tranh 12 sứ quân có lẽ cũng đã góp phần thúc đẩy người dân tìm đến Phật giáo. Còn tầng lớp thống trị, những kẻ đã gây chém giết, cũng cầu nguyện Phật, hy vọng xóa sạch được tội lỗi của mình. Chẳng hạn, Nam Việt Vương Đinh Liễn, con trai của vua Đinh Tiên Hoàng, sau khi đã giết em của mình, đã cho dựng ở Hoa Lư một trăm cột kinh bằng đá (gọi là kinh tràng), để cầu nguyện cho vong hồn em được giải thoát và cầu cho mình “hằng kiên lộc vị”, tức giữ được chức tước, bổng lộc vững bền lâu dài.
Phật giáo với sự tỏa rộng về mặt không gian, cũng như sự thấm sâu trong đời sống tinh thần đã bước đầu chiếm được vị trí vững chắc trong xã hội. Đây là tiền đề về tư tưởng và xã hội vững chắc để cho Phật giáo phát triển toàn thịnh trong hai vương triều Lý và Trần. Đến đây một câu hỏi đặt ra là tại sao Phật giáo lại có ưu thế chính trị như vậy, mặc dù về mặt tôn giáo, trong thực tế lúc này đã tồn tại song hành “thế tam giáo” Nho - Phật - Đạo, nhiều học giả đã phân tích như sau: Thứ nhất, mặc dù giáo lý của Phật giáo không trực tiếp đề cập đến mục đích chính trị xã hội, nhưng lý tưởng từ bi bình đẳng, vị tha của Đạo Phật lại mở cánh cho thái độ nhập thế vào đời sống chính trị xã hội; Thứ hai, khi du nhập vào Việt Nam thì Phật giáo đã hoà đồng với tinh thần yêu nước, với một thứ chủ nghĩa quốc gia đang hình hành; Thứ 3, Phật giáo không tán thành quan điểm Thiên Mệnh (vua trị nước theo ý trời), nghĩa là không có vấn đề phải trung với một ông vua cụ thể; Thứ tư, về khách quan trông vào các triều đình Ngô, Đinh, Lê ta thấy các ông vua đều là võ tướng xuất thân ít học. Như cách cai trị của Đinh Tiên Hoàng thì thật là hung tợn: cột đồng đốt nóng, vạc dầu đun sôi.
Một đặc điểm cần nhấn mạnh là, khác với Châu Âu đương thời trong quan hệ tôn giáo với chính trị - nơi mà quyền lực tôn giáo đã biến thành nhà 25 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nước tôn giáo, chẳng hạn như toà thánh Vatican, giáo hội không những nắm quyền lực kinh tế, xã hội mà trực tiếp điều khiển quyền lực chính trị. Nhưng ở Việt Nam các tăng sĩ tham dự chính sự nhưng không dự chính quyền. Thậm chí họ luôn coi việc trở về chùa là bến đỗ của bản thân: “Lý do thứ nhất họ là những người có học, có ý thức về quốc gia, sống gần gũi với quần chúng và biết được những khổ đau của người dân đang bị một chính sách đô hộ hà khắc. Lý do thứ hai họ không có ý muốn tranh ngôi của vua, không giành quyền bính và địa vị ngoài đời, nên vua tin họ.
Lý do thứ ba, họ không cố chấp vào thuyết trung quân (chỉ biết giúp vua mà thôi) như các nhà nho, nên họ có thể cộng tác với bất cứ ông vua nào có thể đem lại hạnh phúc cho dân. Lý do thứ tư là các vua cần sức học của họ, nhất là trong thời Đinh, Lê, các vua đều không phải giới trí thức. Nho sĩ thì chắc chắn không có mấy người, mà lại chỉ trung thành được với một triều đại” [45, Tr. Đây là một nét đẹp của lịch sử Phật giáo Việt Nam, nó không chỉ phù hợp với đặc điểm của đời sống chính trị Đại Việt mà còn phù hợp với đặc điểm Phật giáo Việt Nam, một tôn giáo có vai trò quan trọng trong tâm thức dân tộc và đời sống của nhân gian.
Như vây, trong chương thứ nhất này chúng tôi đã cố gắng trình bày tóm lược những nét chính liên quan đến hoàn cảnh ra đời của Phật giáo và quá trình Phật giáo du nhập vào Việt Nam. Điều tác giả muốn nhấn mạnh ở đây là: lúc đầu Phật giáo xuất hiện như một nỗ lực cá nhân của Đức Phật Thích Ca nhằm tìm kiếm một con đường, một giải pháp giải phóng, phổ cập chúng sinh thoát khỏi bề khổ trầm luân.