phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luật văn gồm 3 chương, 6 tiết 8 z Chƣơng 1 VAI TRÒ CỦA ỔN ĐỊNH XÃ HỘI ĐỐI VỚI CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Khái niệm ổn định xã hội 1. Những nguyên tắc tiếp cận Thuật ngữ “ổn định” đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhưng thực sự vấn đề ổn định xã hội chỉ được quan tâm đúng mức từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam phát động và lãnh đạo sự nghiệp đổi mới đất nước. Ngày nay, hầu như trên tất cả các lĩnh vực hoạt động của xã hội, trên các phương tiện thông tin đại chúng cũng như trong các báo cáo nghiên cứu khoa học… thuật ngữ “ổn định” đều đã được quan tâm nghiên cứu gắn liền với những vấn đề khác nhau như để khẳng định và nhấn mạnh về trạng thái, tính chất, đặc điểm… của một loại hoạt động, một quá trình hay một vấn đề nào đó.
Việc sử dụng rộng rãi thuật ngữ “ổn định” trên thực tế cho thấy một điều rõ ràng là; càng ngày, giá trị của trạng thái ổn định càng được thừa nhận như một nhân tố, một điều kiện không thể thiếu cho mỗi lĩnh vực hoạt động của con người cũng như toàn bộ quá trình tồn tại, vận động, phát triển của xã hội. Trong thực tế về mặt khách quan cho thấy rằng, trong quá trình nghiên cứu trạng thái ổn định xã hội thì việc tiếp cận, đánh giá thực chất, vai trò, ý nghĩa của trạng thái ổn định xã hội đang còn tồn tại những quan niệm không đồng nhất. Có quan niệm vì quá đề cao nên đã đi đến tuyệt đối hóa ổn định xã hội, nhìn nhận nó như là một trạng thái cố định, tĩnh lặng, bất biến… từ đó dẫn đến thái độ phủ nhận tất cả những gì khác lạ, kể cả những nhân tố mới xuất hiện trong quá trình vận động, phát triển của xã hội. Ngược lại, có quan niệm lại hạ thấp vai trò, ý nghĩa của ổn định xã hội, thậm chí đồng nhất ổn định xã hội với bảo thủ, đánh giá ổn định xã hội như là một trạng thái tiêu 9 z cực, cản trở sự phát triển của xã hội… từ đó dẫn đến phủ định “sạch trơn” trạng thái ổn định trên các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nguyên nhân sâu xa của những quan niệm đó bắt nguồn từ những sai lầm trong cách tiếp cận khi nghiên cứu về ổn định xã hội. Do vậy, để nhận thức đúng đắn vai trò, ý nghĩa của trạng thái này đối với quá trình vận động, phát triển của xã hội cần phải dựa trên một số nguyên tắc phương pháp luận Mácxít. Dưới đây là một số nguyên tắc cơ bản cần quán triệt: Một là: Nghiên cứu ổn định xã hội trước hết phải dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa Mác-Lênin, đặc biệt là nguyên lý về sự phát triển. Phát triển là quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn.
Mọi sự vật, hiện tượng trong tự nhiên, xã hội, tư duy đều nằm trong quá trình khách quan đó. Vì vậy, khi nghiên cứu các hiện tượng xã hội, trạng thái xã hội phải đặt nó trong sự vận động, phát triển.I Lênin viết: “Lôgíc biện chứng đòi hỏi phải xét sự vật trong sự phát triển, trong “sự tự vận động” (…) trong sự biến đổi của nó”. Quan điểm phát triển với tư cách là nguyên tắc phương pháp luận để nhận thức xã hội hoàn toàn đối lập với quan điểm bảo thủ, trì trệ, định kiến. Tuyệt đối hóa một nhận thức nào đó về một trạng thái của xã hội có được trong hoàn cảnh lịch sử phát triển nhất định, ứng với giai đoạn phát triển nhất định của xã hội và xem đó là nhận thức duy nhất đúng về toàn bộ xã hội trong quá trình phát triển tiếp theo của chúng là sai lầm nghiêm trọng.
Mặt khác quan điểm phát triển đòi hỏi phải nắm được khuynh hướng phát triển trong tương lai của xã hội. Trong quá trình phát triển, xã hội đồng thời có những quá trình biến đổi tiến lên, có sự ổn định tương đối, và có cả những biến đổi thụt lùi. Lý thuyết phát triển phải được quán triệt khi tiếp cận, nghiên cứu về ổn định xã hội. Nói cách khác, ổn định xã hội phải được xem xét trên cả hai phương diện.
Nó vừa là kết quả của sự vận động, phát triển kinh tế xã - hội 10 z trước đó, nhưng lại vừa là điều kiện cho sự vận động, phát triển xã hội tiếp theo và bản thân ổn định xã hội cũng biến đổi cùng quá trình phát triển đó. Đối với vấn đề này khi nhận thức, đánh giá bằng tư duy siêu hình thì không thể phản ánh được thực chất của mối quan hệ giữa ổn định và phủ định, giữa cái đang tồn tại với tư cách là mặt nhất thời của trạng thái vận động với cái mới sẽ ra đời với tư cách là kết quả tất yếu của sự vận động và phát triển. Vì vậy, xuất phát điểm của việc nhận diện, tiếp cận với ổn định phải được bắt đầu từ việc xử lý, giải quyết mối quan hệ giữa ổn định với vận động phát triển. Hai là; Nghiên cứu về ổn định xã hội phải dựa trên cơ sở Học thuyết về Hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin.
Nghiên cứu về ổn định xã hội nhưng bản thân của nó không ở trong trạng thái đứng im, tĩnh tại mà là nghiên cứu về trạng thái ổn định của xã hội trong quá trình vận động, phát triển không ngừng của nó. Đây là một vấn đề phức tạp, do vậy, cần có “sợi dây” dẫn đường, “Học thuyết của C. Mác về hình thái kinh tế - xã hội là cơ sở phương pháp luận của sự phân tích khoa học về xã hội, là hòn đá tảng của khoa học xã hội”. Vì vậy, học thuyết này cũng phải được xem là phương pháp luận chủ yếu để tiếp cận, nghiên cứu vấn đề ổn định xã hội.
Khi nghiên cứu về một thực thể phức tạp là xã hội.Mác đã xem xã hội như một cơ thể sống động được tạo thành bởi các yếu tố khác nhau, trong đó cơ bản nhất là lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng, kiến trúc thượng tầng. Các yếu tố này không tồn tại trong sự hỗn độn hay được sắp xếp bên cạnh nhau, ngược lại giữa chúng có mối quan hệ thống nhất biện chứng, tạo thành chỉnh thể hình thái kinh tế - xã hội.Mác khẳng định: “trong sự sản xuất xã hội ra đời sống của mình, con người có những quan hệ nhất định, tất yếu, không tùy thuộc vào ý muốn của họ - tức những quan hệ sản xuất, những quan hệ này phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất của họ. Toàn bộ những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội, tức là cái cơ sở hiện thực trên đó dựng 11 z lên một cơ sở kiến trúc thượng tầng pháp lý và chính trị và những hình thái ý thức xã hội nhất định tương ứng với cơ sở hiện thực đó”. Học thuyết của C.
Mác không chỉ xác định các yếu tố cấu thành hình thái kinh tế - xã hội, mà còn xem xét xã hội trong quá trình biến đổi và phát triển không ngừng. Chính sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các yếu tố cơ bản của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định đã hình thành nên những quy luật chi phối quá trình chuyển hóa từ một hình thái này sang một hình thái khác, từ một trật tự quan hệ xã hội này sang một trật tự quan hệ xã hội khác. Trong số các quy luật đó, C. Mác đặc biệt nhấn mạnh đến quy luật về phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.
Trong tác phẩm Sự khốn cùng của triết học, C.Mác đã nêu một tư tưởng rất quan trọng về vai trò của lực lượng sản xuất trong việc thay đổi các quan hệ xã hội, ông viết: “Những quan hệ xã hội đều gắn liền mật thiết với những lực lượng sản xuất. Do có được những lực lượng sản xuất mới, loài người đã thay đổi phương thức sản xuất của mình, và do thay đổi phương thức sản xuất, cách thức kiếm sống của mình, loài người thay đổi tất cả những quan hệ xã hội của mình. Cái cối xay quay bằng tay đưa lại xã hội có lãnh chúa, cái cối xay chạy bằng hơi nước đưa lại xã hội có nhà tư bản công nghiệp”. Do vậy, khi phân tích về hình thái kinh tế - xã hội, C.Mác đã viết: “Tôi coi sự phát triển của những hình thái kinh tế - xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên”.
Xã hội gắn với con người và nói con người là nói đến xã hội, con người xã hội, ổn định xã hội chính là ổn định các quan hệ xã hội của con người trên các lĩnh vực hoạt động và đời sống của họ. Trạng thái ổn định của xã hội là kết quả tổng hợp của sự ổn định các quan hệ có trong xã hội, do đó ổn định xã hội không thể nằm ở bên ngoài hoạt động của con người. Chính hoạt động của con người trên các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực lao động sản xuất, đã làm thay đổi các quan hệ của họ, và do đó, làm thay đổi trạng thái ổn định xã hội. 12 z Mặt khác “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội”, con người tự giải phóng mình qua hoạt động thực tiễn.
Vì lợi ích của mình, con người đã tạo dựng nên xã hội với trạng thái ổn định nhất định nào đó. Như vậy, ổn định xã hội rõ ràng là phụ thuộc vào hoạt động thực tiễn của con người và nó không đồng nhất với tĩnh lặng và bất biến. Ổn định xã hội có liên quan trực tiếp với mức độ phù hợp giữa hoạt động của nhân tố chủ quan và sự vận động của quy luật khách quan. Với ý nghĩa đó mà xét, nếu quá trình vận động, thay thế các hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên, thì quá trình biến đổi của trạng thái ổn định của các hình thái đó cũng mang tính lịch sử tự nhiên như thế.
Ba là: Nghiên cứu về ổn định xã hội ở Việt Nam phải đặt trong mối quan hệ với quá trình đổi mới, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa.