Chương 1 QUAN ĐIỂM CỦA V.LÊNIN VỀ NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG CÁCH MẠNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA 1. Những đặc điểm cơ bản của nông dân Nga đầu thế kỷ XX Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa tư bản thế giới đã chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở giai đoạn này đã làm bộc lộ rõ hơn bộ mặt phản động và tính chất lỗi thời của giai cấp tư sản và quan hệ sản xuất tư nhân tư bản chủ nghĩa. Phong trào đấu tranh của nhân dân lao động và của các dân tộc thuộc địa nhằm thoát khỏi áp bức bóc lột giai cấp và dân tộc diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.
Nước Nga Sa hoàng bước vào con đường phát triển tư bản chủ nghĩa muộn hơn các nước ở châu Âu. Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã làm cho chế độ nông nô sụp đổ. Tuy nhiên, cho tới cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nền kinh tế của Nga về cơ bản vẫn là kinh tế nông nghiệp lạc hậu với đại đa số dân cư ở nông thôn. Giai cấp công nhân và nông dân Nga vẫn sống trong cảnh bị áp bức bóc lột tàn bạo của chế độ Nga hoàng.
Giai cấp tư sản có xu hướng thoả hiệp với giai cấp phong kiến nhằm tăng cường ách áp bức bóc lột các tầng lớp nhân dân lao động. Ở nước Nga, nền kinh tế vốn đã lạc hậu, tình hình càng trầm trọng hơn. Nạn đói tràn lan khắp nơi và tai họa đó trước hết, đổ lên đầu nhân dân lao động là công nhân, nông dân. Thất nghiệp, đói rét đẩy họ vào cảnh tuyệt vọng.
Trong bối cảnh như vậy, các phong trào đấu tranh đòi quyền dân chủ ở Nga diễn ra mạnh mẽ. Cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và các dân tộc thuộc địa và phụ thuộc trên thế giới cũng như ở nước Nga đã đưa đến đòi hỏi khách quan là, các đảng của giai cấp công nhân phải tiếp tục nghiên cứu, vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác trong tình hình mới, đặc biệt là nguyên lý, lý luận làm sáng tỏ vai trò của giai cấp nông dân đối với nghiệp cách mạng nhằm chống chế độ bóc lột. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai cấp nông dân là một giai cấp xã hội đặc biệt, hình thành trong quá trình tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ. Sự tồn tại của giai cấp nông dân gắn liền với hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Trong xã hội phương Đông truyền thống, nông dân có vai trò khá quan trọng, thậm chí trong hoàn cảnh đặc biệt, nông dân có vai trò quan trọng hàng đầu, như trong dân gian Việt Nam đã khái quát: “…hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sỹ”. Ở phương Tây, trường phái “trọng nông” cũng đề cao vai trò quan trọng của nông dân trong chế độ phong kiến và chế độ tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, nhìn chung, trước các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác-Lênin thì hầu hết các quan điểm của giai cấp thống trị đều xem nhẹ vai trò của nông dân, coi đây là lực lượng lạc hậu và đáng thương hại trong xã hội.Ăngghen đã phân tích những đặc điểm quan trọng của giai cấp nông dân và khẳng định giai cấp công nhân muốn thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình thì tất yếu phải liên minh chặt chẽ với nông dân. Mác, nông dân là những người tư hữu và sản xuất nhỏ.
Họ là người chủ sở hữu những tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông cụ và do đó không thể có được nền kinh tế độc lập. Người nông dân “chỉ sống vì những lợi ích riêng nhỏ nhặt của họ, vì cái khung cửi, vì mảnh vườn cỏn con của họ và không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đang lay động loài người ở bên ngoài xóm làng của họ” 64;488. Tuy nhiên, chính phương thức sản xuất manh mún đó đã trói buộc tư duy của người nông dân trong giới hạn chật hẹp, phường hội, tạo nên tâm lý, cách sống bảo thủ, cục bộ, phân tán, biệt lập.Mác viết: “mảnh đất cỏn con, người nông dân và gia đình anh ta, cạnh kề một mảnh đất cỏn con khác, một nông dân khác và một gia đình khác” 64;515 cùng với nền kinh tế tự cung tự cấp không làm cho họ liên hệ với nhau mà lại làm họ cô lập với nhau. Vì vậy, “nông dân không bao giờ vượt ra khỏi phạm vi những quan hệ địa phương gần nhất và khỏi cái chân trời địa phương chật hẹp gắn liền với những quan hệ đó” 64;188.Mác cũng chỉ ra nông dân vừa là người tư hữu, vừa là người lao động bị áp bức bóc lột nặng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Trong xã hội phong kiến, họ phải chịu các khoản lao dịch, địa tô, thuế thân, tiền bảo hộ và mọi khoản thuế khoá khác “đều đè nặng lên vai người nông dân” 64;171. Trong xã hội tư bản chủ nghĩa, giai cấp nông dân thậm chí còn chịu bóc lột nặng nề hơn.Mác viết: “bọn cho vay nặng lãi ở thành thị đã thế chân bọn phong kiến… Chế độ tư sản đã lại trở thành con quỷ hút máu và não của mảnh đất con đó và đem trút máu và não ấy vào các bình cổ cong luyện vàng của tư bản” 64;520. Chính sự áp bức bóc lột nặng nề này là cơ sở để hình thành tư tưởng phản kháng của nông dân đối với chế độ phong kiến và tư bản chủ nghĩa.Mác cũng chỉ rõ sự đấu tranh đó không phải xuất phát từ sự giác ngộ về quyền lợi giai cấp mà là những tính toán quyền lợi vật chất vì họ là những người có đầu óc “thực tế và thiết thực”. Là người tư hữu nhỏ, nông dân có thể tự phát đi theo chủ nghĩa tư bản, thoả hiệp với tư sản và địa chủ để bảo vệ những tài sản nhỏ bé của mình.
Mặt khác, là người lao động bị áp bức, bóc lột, nông dân có thể đi theo giai cấp vô sản để làm cuộc cách mạng giải phóng cho bản thân mình.Ăngghen đã cho rằng nông dân vừa là người sở hữu, tư hữu nhỏ, vừa là người lao động bị áp bức bóc lột nặng nề trong các xã hội có áp bức giai cấp. Tuy vậy, các ông cũng lưu ý nền sản xuất nhỏ và tư tưởng tư hữu đã hạn chế nhiều đến ý thức và kết quả đấu tranh của giai cấp nông dân. Sự dao động, ngả nghiêng ảnh hưởng không ít tới vai trò chính trị của họ nhưng, ở họ vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn. Bởi vậy, họ cần có một giai cấp tiến bộ hơn lãnh đạo.
Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và tư sản, việc giai cấp nào giành được sự đồng tình, ủng hộ của nông dân là yếu tố cơ bản quyết định sự thắng lợi. Vì vậy, giai cấp vô sản phải tìm cách liên minh với nông dân, nếu không có được bài đồng ca này thì trong tất cả các quốc gia nông dân, bài đơn ca của cách mạng vô sản sẽ trở thành bài ai điếu. Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức”, Ph.Ăngghen cũng cho rằng “việc đảng xã hội chủ nghĩa giành chính quyền đã trở thành một việc không xa nữa. Nhưng muốn giành được chính quyền thì trước hết Đảng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó phải chuyển từ thành thị về nông thôn, phải trở thành một thế lực ở nông thôn” 65;565.
Quan điểm của V.Lênin về nông dân là sự kế thừa và phát triển quan điểm của C.Ăngghen về nông dân trong điều kiện, hoàn cảnh của nước Nga đầu thế kỷ XX. Người đã chỉ ra nhiều đặc điểm quan trọng của giai cấp nông dân Nga đầu thế kỷ XX, từ đó, khẳng định về khả năng cách mạng to lớn của giai cấp này trong tiến trình cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trước hết, trong điều kiện phát triển của chủ nghĩa tư bản Nga đầu thế kỷ XX, nông dân Nga bị phân hoá thành nhiều nhóm khác nhau xét theo địa vị giai cấp của họ. Khi phân tích cơ cấu xã hội-giai cấp ở nông thôn Nga đầu thế kỷ XX, V.Lênin đã chỉ rõ xã hội nông thôn nước Nga có nhiều giai cấp và tầng lớp khác nhau cùng tồn tại, trong đó, có những kẻ chuyên bóc lột bên cạnh những người lao động và bị bóc lột.
Những kẻ bóc lột bao gồm đại nông, địa chủ, chúa đất, cu lắc và tư bản. Những người lao động và bị bóc lột bao gồm: giai cấp vô sản nông nghiệp, những người nửa vô sản hay những nông dân có ít ruộng, tầng lớp tiểu nông và trung nông. Những tầng lớp lao động ở nông thôn này được V.Lênin gọi là lực lượng đứng giữa tư sản và vô sản. Ở nước Nga cũng như trong tất cả các nước tư bản thì các tầng lớp này, đặc biệt là giai cấp vô sản nông nghiệp, nửa vô sản và tiểu nông gộp lại với nhau cấu thành đại đa số dân cư nông thôn và đó là những tầng lớp khác nhau của nông dân.
Người viết: “Lực lượng thứ hai - tức là lực lượng đứng giữa tư bản phát triển và giai cấp vô sản. Đó là giai cấp tiểu tư sản, những người tiểu sở hữu; đó là những phần tử hợp thành tuyệt đại đa số dân cư ở nước Nga, tức là giai cấp nông dân” 50;160. Mặc dù cùng thuộc về giai cấp nông dân nhưng giữa các tầng lớp này có sự phân biệt tương đối. Trong “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề ruộng đất” để trình tại Đại hội II Quốc tế cộng sản, Người đã phân tích khá kỹ cơ sở kinh tế - xã hội cho sự phân chia cơ cấu giai cấp này.
Theo đó, giai cấp vô sản nông nghiệp, tức là những công nhân làm thuê (từng năm, từng kỳ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com và từng ngày) sinh sống bằng cách lao động làm thuê trong các xí nghiệp nông nghiệp tư bản chủ nghĩa. Những người nửa vô sản hay những người nông dân có rất ít ruộng, tức là những người sinh sống một phần bằng lao động làm thuê trong các xí nghiệp nông nghiệp và công nghiệp tư bản chủ nghĩa một phần bằng cày cấy mảnh đất riêng của họ hay do lĩnh canh được. Mảnh đất đó chỉ cung cấp được một phần lương thực cho gia đình họ. Ở các nước tư bản, tầng lớp lao động nông thôn đó rất đông đảo.