Chương 1. NÔNG DÂN VÀ VAI TRÒ CỦA NÔNG DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở VIỆT NAM 1. Nông dân và nông thôn mới ở Việt Nam 1. Nông dân và những đặc điểm nông dân Việt Nam Quan niệm về nông dân Theo từ điển Tiếng Việt phổ thông: Nông dân được định nghĩa là “người lao động sống bằng nghề làm ruộng” [69; tr.
Theo từ điển Chủ nghĩa Cộng sản khoa học: Nông dân là “một giai cấp chuyên sản xuất những sản phẩm nông nghiệp trên cơ sở sở hữu tư nhân hoặc sở hữu hợp tác xã về tư liệu sản xuất và tham gia sản xuất bằng lao động của chính mình”, “là một giai cấp xã hội đặc biệt, giai cấp nông dân hình thành trong quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy và quá trình phát triển của chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và tồn tại cho tới khi xây dựng xong chủ nghĩa cộng sản” [49; tr. Theo từ điển Chính trị vắn tắt, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1998: Nông dân được định nghĩa là một giai cấp trong xã hội. Dưới chế độ phong kiến và tư sản, giai cấp nông dân là toàn thể những người sản xuất nhỏ trong nông nghiệp, kinh doanh cá thể bằng tư liệu sản xuất của riêng mình và bằng lực lượng của gia đình mình. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Hồ Chí Minh và Đảng ta về nông dân C.Ăngghen cho rằng “nông dân là giai cấp những người tiểu nông” [43; tr.
“Tiểu nông là một khối quần chúng rộng lớn mà tất cả các thành viên đều sống trong một hoàn cảnh như nhau. Phương thức sản xuất của họ không làm cho họ liên hệ với nhau mà lại làm cho họ tách rời nhau” [43; tr. “Tiểu nông mà chúng ta nói tới ở đây là chỉ người chủ ruộng đất hoặc người tá điền và nhất là người chủ một mảnh ruộng không lớn hơn mảnh ruộng cần thiết để nuôi gia đình họ. Như vậy, cũng như tiểu thủ công nghiệp, người tiểu nông này 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com là người lao động, anh ta khác với người lao động vô sản hiện đại ở chỗ anh ta còn có tư liệu lao động, như vậy anh ta là tàn dư của một phương thức lỗi thời” [43; tr.
Bản chất xã hội và địa vị của nông dân trong xã hội là do phương thức sản xuất thống trị quy định và được thay đổi cùng với sự thay đổi của hình thái kinh tế - xã hội và các giai đoạn phát triển của nó. Trong xã hội XHCN, nông dân bao gồm những người sản xuất nông nghiệp phân tán và chủ yếu là những người sản xuất nhỏ. Trong điều kiện của CNTB, nông dân là một tầng lớp tiểu tư hữu - sản xuất hàng hóa, một bộ phận của tiểu tư sản, tất yếu ngày càng bị phân hóa. Nông dân phân hóa thành ba nhóm khác nhau xét theo địa vị giai cấp của họ: tiểu nông (bần nông, cố nông), trung nông và tư sản nông nghiệp.
Việc tích tụ sản xuất TBCN và việc tăng cường sự tước đoạt dẫn tới chỗ làm xói mòn tầng lớp trung nông. Một mặt, số quần chúng vô sản và nửa vô sản không ngừng tăng lên ở nông thôn và mặt khác, giai cấp tư sản được tăng cường. Xét về bản chất kinh tế - xã hội, giai cấp nông dân dưới CNTB có tính hai mặt: vừa là giai cấp những người lao động, vừa là giai cấp những người tư hữu.Mác, nông dân là những người tư hữu và sản xuất nhỏ. Họ là những người chủ sở hữu những tư liệu sản xuất nhỏ lẻ, manh mún như đất đai, nông cụ và do đó không thể có được nền kinh tế độc lập.
Người nông dân “chỉ sống vì những lợi ích riêng nhỏ nhặt của họ, vì cái khung cửi, vì mảnh vườn cỏn con của họ và không biết gì đến phong trào mạnh mẽ đang lay động loài người ở bên ngoài xóm làng của họ”[29; tr. Chính phương thức sản xuất manh mún đó đã trói buộc tư duy của người nông dân trong giới hạn chật hẹp, phường hội, tạo nên tâm lý, cách sống bảo thủ, cục bộ, phân tán, biệt lập.Mác viết: “mảnh đất cỏn con, người nông dân và gia đình anh ta, cạnh kề một mảnh đất cỏn con khác, một nông dân khác và một gia đình khác”[29; tr.515] cùng với nền kinh tế tự cung, tự cấp không làm cho họ liên lạc với nhau mà lại làm họ cô lập với nhau. Vì vậy, “nông dân không bao giờ vượt ra khỏi phạm vi những quan hệ địa phương gần nhất và khỏi cái chân trời địa phương chật hẹp gắn liền với những quan hệ đó”[29; tr.Mác cũng chỉ ra nông dân vừa là người tư hữu, vừa là người lao động bị áp bức bóc lột nặng nề. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Trong xã hội phong kiến, họ phải chịu các khoản lao dịch, địa tô, thuế thân, tiền bảo hộ và mọi khoản thuế khóa khác “đều đè nặng lên vai người nông dân” [29; tr.
Trong xã hội TBCN, giai cấp nông dân thậm chí còn chịu bóc lột nặng nề hơn.Mác viết: “bọn cho vay nặng lãi ở thành thị đã thế chân bọn phong kiến… Chế độ tư sản đã lại trở thành con quỷ hút máu và não của mảnh đất con đó và đem trút máu và não ấy vào các bình cổ cong luyện vàng của tư bản”[29; tr. Chính sự áp bức bóc lột nặng nề này là cơ sở để hình thành tư tưởng phản kháng của nông dân đối với chế độ phong kiến và tư bản chủ nghĩa.Mác cũng chỉ rõ sự đấu tranh đó không phải xuất phát từ sự giác ngộ về quyền lợi giai cấp mà là những tính toán quyền lợi vật chất vì họ là những người có đầu óc “thực tế và thiết thực”. Là người tư hữu nhỏ, nông dân có thể tự phát đi theo CNTB, thỏa hiệp với tư sản và địa chủ để bảo vệ những tài sản nhỏ bé của mình. Mặt khác, là người lao động bị áp bức, bóc lột, nông dân có thể đi theo giai cấp vô sản làm cuộc cách mạng để giải phóng cho bản thân mình.
Ăngghen đã cho rằng nông dân vừa là người sở hữu, tư hữu nhỏ, vừa là người lao động bị áp bức, bóc lột nặng nề trong các xã hội có áp bức giai cấp. Tuy vậy, các ông cũng lưu ý nền sản xuất nhỏ và tư tưởng tư hữu đã hạn chế nhiều đến ý thức và kết quả đấu tranh của giai cấp nông dân. Sự dao động, ngả nghiêng ảnh hưởng không ít tới vai trò chính trị của họ, nhưng ở họ vẫn chứa đựng một khả năng cách mạng to lớn. Bởi vậy, họ cần có một giai cấp tiến bộ hơn để lãnh đạo giai cấp mình - giai cấp vô sản.
Trong cuộc đấu tranh giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản, việc giai cấp nào giành được sự đồng tình, ủng hộ của giai cấp nông dân là yếu tố cơ bản quyết định sự thắng lợi. Vì vậy, giai cấp vô sản phải tìm cách liên minh với giai cấp nông dân, nếu không có được bài đồng ca này thì trong tất cả các quốc gia nông dân, bài đơn ca của cách mạng vô sản sẽ trở thành bài ca ai điếu. Trong tác phẩm “Vấn đề nông dân ở Pháp và ở Đức”, Ph.Ăngghen cũng cho rằng “việc đảng xã hội chủ nghĩa giành chính quyền đã trở thành một việc không xa nữa. Nhưng muốn giành được chính quyền thì trước hết Đảng đó phải chuyển từ thành thị về nông thôn, phải trở thành một thế lực ở nông thôn”[30; tr.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quan điểm của V.Lênin về nông dân là sự kế thừa và phát triển quan điểm của C. Ăngghen về nông dân trong điều kiện mới là CNTB chuyển sang giai đoạn đế quốc chủ nghĩa và khẳng định về khả năng cách mạng to lớn của giai cấp này trong tiến trình cách mạng XHCN. Người cho rằng, nông dân (trung nông) là những người sản xuất hàng hóa nhỏ, là những người tiểu tư hữu. Họ là giai cấp của thời kỳ gia trưởng, một giai cấp do hàng chục, hàng trăm nô lệ tạo thành.
Trong suốt hàng chục năm ấy, người nông dân là một người tiểu chủ, lúc đầu phải phục vụ các giai cấp khác, rồi sau đó được tự do và bình đẳng về hình thức, nhưng là người tư hữu, người sở hữu lương thực. Nông dân vừa là những người lao động, vừa là những người tư hữu nhỏ. Mặc dù họ khác nhau về trình độ, địa vị kinh tế và lợi ích nhưng có một điểm chung giữa các tầng lớp thuộc nông dân, đó là họ đều sinh sống bằng cách làm thuê cho các giai cấp bóc lột ở nông thôn, hoặc là họ tồn tại bằng chính lao động của bản thân mình trên những điều kiện sẵn có của mình về tư liệu sản xuất, chứ không sống bằng việc bóc lột lao động của người khác. Lao động đó có thể đủ đáp ứng nuôi sống gia đình và nhu cầu sản xuất của họ.
Thậm chí với trung nông, lao động đó có thể tạo ra sản phẩm dư thừa để họ có thể tích lũy. Vì vậy, “Giai cấp đó, một mặt là người tư hữu, mặt khác lại là người lao động”[44; tr. Đặc điểm này đã được V.Lênin chỉ rõ khi phân tích sự khác biệt giữa trung nông và bọn cu - lắc. Trung nông khác cu - lắc ở chỗ là trung nông không bóc lột lao động của người khác.
Còn bọn cu - lắc thì bóc lột lao động của người khác. “Bần nông, những người nửa vô sản, chính là những người phải chịu sự bóc lột đó; trung nông, chính là người không bóc lột ai, tự túc được, lúa tạm đủ ăn”[45; tr.Lênin cũng cho rằng, giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập. Tư tưởng của họ phụ thuộc vào hệ tư tưởng của giai cấp thống trị đương thời. Do chịu sự tác động rất lớn của những điều kiện kinh tế - xã hội nên nông dân có tư tưởng dễ dao động, mập mờ và thực tế.
Họ chỉ sẵn sàng tin và đi theo giai cấp nào mang lại lợi ích cho họ, nhưng cũng phải chờ cho tới khi nào họ nhận thức rõ ràng được lợi ích đó. Cho nên, nếu những người XHCN và những người cộng sản biết cách nói điều hơn lẽ thiệt với nông dân thì sẽ thuyết phục được họ tham gia cách mạng XHCN. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Do giai cấp nông dân không có hệ tư tưởng độc lập, sự dao động, sự tính toán mang đầy tính thực tế nên có thể được xem đây là một trong những đặc điểm quan trọng của nông dân trong bất kỳ giai đoạn nào.