Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứu LIÊN QUAN ĐẾN ĐÈ TÀI Vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đang đặt ra ở nhiều nước trên thế giới. Ớ nước ta vấn đề xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đã được Đảng ta rất quan tâm và là một trong những nội dung quan trọng của nhiều công trình nghiên cứu về sự phát triển kinh tế - xã hội trong quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. VẤN ĐẺ NÈN KINH TÉ Độc LẬP Tự CHỦ Trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đưa ra các quan niệm khác nhau về nền kinh tế độc lập tự chủ là: Luận án tiến sĩ Kinh tế “Xây dựng nền kỉnh tế độc lập tự chủ của nước ta trong điều kiện toàn cầu hoá kinh tế”, của Nguyễn Thuý Anh, năm 2004; Luận vãn thạc sĩ Triết học “Moi quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay”, của Nguyễn Thị Thu Hiền, năm 2007; Đe tài khoa học tuyến thầu cấp Bộ, năm 2005 “Chủ động hội nhập kinh tế quốc tế và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam”, Chủ nhiệm đề tài GS,TS Hoàng Ngọc Hoà, năm 2007. Các công trình nghiên cứu đó đã bàn đến các nội dung sau: * Quan niệm về nền kỉnh tế độc lập tự chủ trong các vãn kiện của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Vấn đề độc lập tự chủ của đất nước và đường lối độc lập tự chủ của Đảng ta luôn có một vị trí quan trọng trong các Cương lĩnh, các Văn kiện của Đảng. Chính vì vậy, từ khi ra đời cho đến nay, Đảng ta luôn nêu rõ quan điếm về độc lập tự chủ. Mối quan hệ giữa độc lập và tự chủ về kinh tế đã được Đảng ta khẳng định trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ III năm 1960, “xây 7 dựng nền kinh tế của ta thành một nền kinh tế tự chủ, tương đối hoàn chỉnh, làm cơ sở cho độc lập của nước nhà. Lần đầu tiên cụm từ “độc lập, tự chủ”, được Đảng ta nêu trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IV năm 1976, khi nhấn mạnh đến vai trò then chốt của “đường loi chính trị, đường loi quân sự độc lập, tự chủ, đúng đắn và sáng tạo của Đảng ta” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước thắng lợi và yêu cầu chung “giữ vững độc lập tự chủ” của đất nước trong giai đoạn mới [33, tr.
Đại hội lần thứ VIII của Đảng năm 1996 đã mở rộng một cách toàn diện vấn đề độc lập, tự chủ từ “nâng cao ý thức độc lập, tự chủ” đến yêu cầu “tạo lập được một vị thế độc lập, tự chủ” bao gồm “độc lập, tự chủ về kinh tế, quốc phòng, an ninh” [29, tr.22], “sao cho trong mọi lĩnh vực chúng ta có cách tư duy độc lập, có cách làm vừa hiện đại vừa mang sắc thái Việt Nam” [29, tr.3O] và “độc lập tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế” [29, tr. Chủ trương, gắn chặt việc "xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế“ [34, tr.92] được đặc biệt nhấn mạnh tại Đại hội Đảng lần thứ IX năm 2001, trong đó, “công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước phải bảo đảm xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, trước hết là độc lập tự chủ về đường lối, chính sách, đồng thời có tiềm lực kinh tế đủ mạnh. Tuy nhiên, quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng của Việt Nam trong bối cảnh xu thế toàn cầu hoá kinh tế gia tăng mạnh mẽ lại đặt ra những thách thức rất mới, rất căn bản đổi với vấn đề độc lập, tự chủ của quốc gia và sự phát triển bền vững của đất nước. Đại hội X của Đảng đã nhận định, “lý luận vẫn chưa giải đáp được.
mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế” [37, tr. Do vậy, Đại hội lần thứ X của đảng ta năm 2006, khắng định: chúng ta thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, họp tác và phát triển; chính sách đổi ngoại rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế. Việt Nam là bạn, 8 đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực [37, tr. Đồng thời, Đảng ta đã nhấn mạnh việc “Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ phải đi đôi với chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại, kết hợp nội lực với ngoại lực thành nguồn lực tổng họp để phát triển đất nước” [34, tr.
Như vậy, trong bối cảnh mới đòi hỏi một cách cấp thiết phải có sự rà soát thận trọng cơ sở lý luận về độc lập tự chủ, đánh giá kỹ lưỡng các bài học thực tiễn trong nước và thế giới, dự báo chính xác các xu hướng quốc tế và tác động của chúng đối với Việt Nam, từ đó đề xuất những điều chỉnh, bổ sung cần thiết để thực hiện thắng lợi đường lối độc lập tự chủ của Đảng, không ngừng nâng cao vị thế và sức mạnh quốc gia, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn 2010 - 2020. * Quan niệm vể nển kinh tế độc lập tự chủ của các nhà nghiên cứu khoa học Đen nay có một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan điểm khác nhau về nền kinh tế độc lập tự chủ, song nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung cơ bản: Một là, nền kinh tế độc lập tự chủ là nền kinh tế có thể tự thân vận động, không bị chi phối hay lệ thuộc vào nước khác, người khác, hoặc vào một tổ chức kinh tế nào đó về đường lối, chính sách phát triển kinh tế. Sử dụng và phát huy được nội, ngoại lực cho sự phát triển bền vững của đất nước. Hai là, nên kinh tế có khả năng đối phó và đúng vững trước những thách thức, tác động tiêu cực từ bên ngoài (khu vực và thế giới).
Ba là, độc lập tự chủ về kinh tế luôn được đặt trong mối quan hệ biện chứng với độc lập tự chủ về chính trị, văn hoá, xã hội và các mặt khác tạo thành sức mạnh tổng hợp quốc gia [1, tr. Ngoài ra, còn có một số tác giả chỉ rõ rằng: 9 độc lập tự chủ vê kinh tê là phải độc lập tự chủ trong việc hoạch định đường lối, chiến lược, qui hoạch, kế hoạch; độc lập tự chủ trong sử dụng các giải pháp; huy động các nguồn lực để phát triến nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập với nền kinh tế thể giới, chú động, tích cực tham gia vào sự giao lưu, hợp tác, phân công lao động quốc tế và trên cơ sở phát huy tốt nhất nội lực và lợi thế so sánh của quốc gia trong tham gia hợp tác, phân công lao động quôc tế nhằm tranh thủ ngoại lực để phát triển và cạnh tranh quốc tế có hiệu quả [47, tr. Từ việc nêu ra quan niệm về nền kinh tế độc lập tự chủ, các tác giả đã cho răng, nền kinh tế độc lập tự chủ trong điều kiện hiện nay có những đặc trưng: “Trước hết, và quan trọng nhất là phải đảm bảo lợi ích phát triển của quôc gia ở mức cao nhât có thê được; Thứ hai, sức cạnh tranh của nền kinh tế phải được cải thiện và tăng dần; Thứ ba, có khả năng úng phó có hiệu quả với những chấn động chính trị, kinh tế, xã hội bên ngoài” [1, tr. VẤN ĐÈ VAI TRÒ CỦA NHÃ NƯỚC Nghiên cứu về vai trò của nhà nước đã có một số công trình tiêu biểu như: “Cơ chê thị trường và vai trò nhà nước trong nền kinh tế Việt Nam’'’, của tác giả Lương Xuân Quỳ, Nxb Thống kê, Hà Nội, năm 1994; ‘Tác động của nhà nước nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay”, của tác giả Nguyễn Cúc (Chủ biên), Nxb Chính trị quôc gia, Hà Nội, năm 1997; Luận án thạc sĩ khoa học Chính trị “Vai trò của nhà nước đổi với sự phát triển ở một sổ nước ASEAN”, của tác giả Nguyên Văn Bình, năm 1998; “Vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam ”, của tác giả Chu Văn cấp, tạp chí Nghiên cứu lý luận, số 9, năm 2000; Luận án tiến sĩ Triết học “Vai trò định hướng xã hội chủ nghĩa của nhà nước đổi với sự phát triển nền kinh tế Việt Nam hiện nay”, của Lê Thị Hồng, năm 2001; Luận văn thạc sĩ Kinh tế 10 “ Vai trò của nhà nước Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế”, của Quách Công Sơn, năm 2003; “Vai trò của nhà nước trong phát triển kinh tế - xã hội của nước ta trong những năm qua”, của Phương Ngọc Thạch, tạp chí Phát triển kinh tế, tháng 5, năm 2.005; “Một sổ cách tiếp cận mới về vai trò nhà nước trong cung cấp hàng hoá và dịch vụ công”, của tác giả Vũ Thanh Sơn, tạp chí Nghiên cứu kinh tế, số 326, tháng 7/2005; Đề tài luận văn thạc sĩ Kinh tê “Vai trò kinh tế của nhà nước trong bổi cảnh toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”, của tác giả Nguyễn Thuỳ Anh, năm 2006; Luận văn thạc sĩ Triết học “Vai trò của nhà nước đổi với sự phát triển kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế quổc tế ở Việt Nam hiện nay”, của tác giả Ngô Thị Tân Hương, năm 2007; Đề tài “Vai trò của nhà nước trong quá trình hội nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) của Việt Nam” mã số: KT.01, do Nguyễn Thùy Anh, Lê Vân Anh chủ trì, năm 2007.
Trên cơ sở nêu lên sự cần thiết của việc chuyển đổi nền kinh tế nước ta vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước, tác giả Lương Xuân Quỳ cho rằng vai trò của nhà nước cần được làm sáng tỏ là: “Nhà nước can thiệp điều tiết, điều khiển hay quản lý nền kinh tế hay quản lý kinh tế; Nhà nước Việt Nam cân phải làm gì đê hoàn thành chức năng quản lý nền kinh tế thị trường; những cong cụ nao có thê và cân phải được sử dụng đê nhà nước hoàn thành được chức năng quản lý điều khiển nền kinh tế” [89, tr.