phần mở đầu và kết luận luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng: 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1. Khái lƣợc về Kitô giáo và sự truyền bá vào Nhật Bản Chƣơng 2. Vai trò của Kitô giáo đối với giáo dục, y tế và công tác xã hội của Nhật Bản từ 1945 đến nay Chƣơng 3. Vai trò của Kitô giáo đối với sinh hoạt văn hóa của Nhật Bản từ 1945 đến nay 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI LƢỢC VỀ KITÔ GIÁO VÀ SỰ TRUYỀN BÁ VÀO NHẬT BẢN 1.1 Khái lƣợc về Kitô giáo Tôn giáo xuất hiện từ rất lâu và con ngƣời mặc nhiên chấp nhận nó.
Việc đặt ra câu hỏi: “Tôn giáo là gí” mới chỉ đƣợc giới khoa học đề cập trong thời gian gần đây, khi mà vấn đề tôn giáo trở thành bức xúc và phức tạp. Khi câu hỏi này đƣợc đặt ra cũng là lúc mà tôn giáo trở thành đối tƣợng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học riêng biệt. Đối tƣợng nghiên cứu của tôn giáo xuất phát từ châu Âu khá sớm nhƣng bộ môn khoa học về tôn giáo chỉ ra đời vào cuối thế kỷ XIX. Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con ngƣời”.
Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mính, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chƣa từng cô đơn thí anh chƣa bao giờ có tôn giáo”. Theo quan điểm của C.Mác: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng nhƣ nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” [1, tr.Ăngghen có một khái niệm mang khìa cạnh nguồn gốc của tôn giáo là: “Tôn giáo là sự phản ánh hoang đƣờng vào trong đầu óc con ngƣời những lực lƣợng bên ngoài, cái mà thống trị họ trong đời sống hàng ngày …”. Còn theo từ điển tiếng Anh quốc tế của Webster xuất bản năm 1993 thí „Tôn giáo là một sự cảm nhận hay xác tìn cá nhân về sự hiện hữu của một đấng tối cao hay của những quyền lực hay một ảnh hƣởng siêu nhiên khống chế định mệnh của bản thân, của nhân loại hay của vạn vật” [11, tr.7] Một trong ba tôn giáo lớn nhất thế giới hiện nay là Kitô giáo.
Kitô giáo bao gồm nhiều truyền thống tôn giáo với các dị biệt văn hóa và các giáo phái khác nhau. Số lƣợng tìn đồ Kitô giáo chiếm khoảng một phần ba dân số thế giới [6, tr. Nó cũng là tôn giáo có khu vực ảnh hƣởng rộng nhất và đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong tiến trính văn minh nhân loại và phát triển xã hội. Kitô giáo 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất hiện vào thế kỷ thứ I ở khu vực phìa đông của đế quốc La Mã với chế độ chiếm hữu nô lệ.
Đế chế La Mã tiến hành nhiều cuộc chiến tranh xâm lƣợc tàn khốc, tạo ra nhiều mâu thuẫn và xung đột gay gắt trong đời sống xã hội. Trong bối cảnh ấy đã làm nảy sinh những tƣ tƣởng đƣợc giải phóng và tự do. Bên cạnh đó, vùng Trung Cận đông là nơi tiếp giáp 3 châu lục, dân cƣ ở đây vốn theo đa thần giáo, trong quá trính thống nhất của đế chế đã xuất hiện yêu cầu thống nhất về tƣ tƣởng, trong đó có nhu cầu về tôn giáo độc thần, ví vậy Kitô giáo đã ra đời trên cơ sở của Do Thái giáo vốn đang tồn tại ở vùng này. Kitô giáo bắt đầu là một chi phái của Do Thái giáo trong thế kỷ I trƣớc công nguyên khi Đế quốc La mã cực thịnh và hoàng đế Augustus Ceasar (63 trƣớc công nguyên đến 14 trƣớc công nguyên) trị ví.
Trong thời cổ đại Kitô giáo xuất hiện và hoạt động trong cộng đồng ngƣời Do Thái nhƣng bị những ngƣời theo Do Thái giáo đả kìch và chình quyền La Mã đàn áp. Trong thời gian giữa năm 64 và 330, Kitô giáo trải qua mấy thời kỳ bị Đế quốc La mã bách hại rồi lại chấp nhận. Về mặt chình thức, Đế quốc La mã khoan dung mọi tôn giáo. Tuy nhiên ngƣời Kitô giáo thỉnh thoảng gặp khó khăn ví họ từ chối không chấp nhận các vị thần của La mã và thờ phụng những thần này vào những dịp quốc lễ.
Khi số lƣợng ngƣời Kitô giáo tăng lên sự chống đối họ cũng tăng lên ví họ từ chối trung thành tuyệt đối với Hoàng đế, và ví thỉnh thoảng họ từ chối gia nhập quân đội La Mã. Kết quả là sự bách đạo. Sang thế kỷ II, sau những thời kỳ yên tĩnh lại đến những cuộc bách hại nặng nề. Tƣ cách pháp nhân của ngƣời Kitô giáo trong Đế quốc chƣa bao giờ đƣợc bảo đảm.
Bất cứ lúc nào các quan chức địa phƣơng đều có thể bách hại họ. Cuộc bách hại qui mô lớn diễn ra dƣới thời Hadrian (hoàng đế thứ 117 đến 138) và Marcus Aurelius (hoàng đế thứ 161 đến 180) [11, tr. Trong kỷ nguyên này Đế quốc La Mã cổ đại bị tan rã do các thế lực bên trong và bên ngoài thƣờng coi những ngƣời Kitô giáo nhƣ là mối đe dọa đối với sự thống nhất và sức mạnh của những đƣờng lối La mã cổ đại. Do đó họ bách hại Kitô giáo với hy vọng là khôi phục Roma trở lại thời kỳ trƣớc khi có Kitô giáo.
14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giai đoạn giữa sự sụp đổ của Đế quốc La Mã và sự trỗi dậy của những quốc gia Châu Âu hiện đại thƣờng đƣợc gọi là thời Trung cổ hay Trung Đại. Trong giai đoạn này Giáo hội Kitô giáo là lực lƣợng chủ yếu chi phối mọi mặt đời sống kinh tế, chình trị, văn hóa, xã hội của nhiều nƣớc phong kiến châu Âu. Quá trính mở rộng ảnh hƣởng của đạo Kitô đã gây ra nhiều cuộc xung đột, mâu thuẫn gay gắt giữa Kitô giáo với Do Thái giáo và Hồi giáo với những cuộc Thập tự chinh tàn khốc và đẫm máu. Ngay trong bản thân Kitô giáo cũng nảy sinh mâu thuẫn gay gắt, quyết liệt dẫn đến sự phân hoá Kitô giáo lần thứ nhất vào năm 1054 thành 2 phái: Công giáo – thế lực lớn nhất ở phìa Tây La Mã và Chình thống giáo ở phìa Đông La Mã.
Vào thế lỷ XVI, Giáo hội phƣơng Tây bị xé ra từng mảnh ví một cuộc cách mạng dữ dội mà từ đó Giáo hội không bao giờ phục hồi đƣợc. Cuộc cách mạng này đƣợc gọi là Cuộc Cải Cách [11, tr. 494], nhƣng nó đi xa hơn là việc cải cách Kitô giáo bởi nó làm xáo trộn, phá vỡ sự thống ngự trên châu Âu của Kitô giáo, thách thức quyền bình của Kitô giáo và làm ngăn trở tôn giáo ấy nhiều thế kỷ. Những nguyên nhân của cuộc cách mạng này rất nhiều, đa dạng và phức tạp.
Tuy nhiên, những nguyên nhân chình có thể nêu lên một cách rộng rãi là sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia châu Âu, kiến thức mới của thời Phục Hƣng và sự sụp đổ quyền lực Giáo hoàng. Sự khởi đầu của cuộc Cải Cách Tin Lành thƣờng đƣợc ghi nhận là vào năm 1517, khi Martin Luther (1483 – 1546) [6, tr. 631] dán 95 luận đề của ông trên cửa Giáo hội ở Wittenberg. Tiếp đó là sự cải cách John Calvin (1509 – 1546) [6, tr.
634] với việc cho ra đời một quyển sách đồ sộ mà sau này trở thành kinh điển của thần học Tin Lành, các qui tắc của Kitô giáo. Ngoài ra còn có sự cải cách của Ulrich Zwingli (1484 – 1531) và một số nhà lãnh đạo của các phong trào cải cách khác. Kết quả là đã làm xuất hiện Giáo hội cải cách gọi là Tin lành [6, tr. Cũng trong thế kỷ XVI vua Anh tách Công giáo ở Anh khỏi sự chỉ đạo của Giáo Hoàng và lập ra Anh giáo.
Ngày nay, Kitô giáo có hơn 400 dòng khác nhau trong đó có 4 nhánh lớn là Công giáo, Chình thống giáo, đạo Tin Lành và Anh giáo. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giáo lý Công giáo là một hệ thống từ giản đơn cho đến phức tạp của các học thuyết kinh viện với các quan điểm triết học và thần học siêu hính, căn cứ vào kinh thánh nhƣng phải dựa vào những lời giải thìch truyền thống và là thẩm quyền của Giáo hội. Công giáo đề cao thuyết thần quyền tuyệt đối (mọi việc do Chúa định) và thuyết giáo quyền tập trung (Giáo Hoàng là đại diện Thiên chúa ở trần gian). Kinh thánh theo quan niệm của giáo hội là “lời Chúa truyền dạy đời đời” [21, tr.
398] là một bộ sách gồm 73 quyển đƣợc chia làm 2 bộ Tân ƣớc và Cựu ƣớc [21, tr. Ban đầu Kinh thánh đƣợc truyền khẩu trong dân gian. Đến thế kỷ II thí bắt đầu đƣợc viết trên da dê, từ thế kỷ IV – VI đƣợc viết trên giấy Papêrút và đến thế kỷ VII mới viết thành sách. Kinh thánh là một kho tàng lịch sử và điển tìch văn học.
Kinh thánh bao gồm toàn bộ quan điểm, tƣ tƣởng của giáo lý và tìn điều của các đạo Kitô. Tùy theo đạo mà số kinh này đƣợc chấp nhận theo yêu cầu của giáo lý các đạo. Vì dụ Đạo Chình thống chú trọng 5 cuốn đầu tiên của Kinh Cựu ƣớc. Đạo Tin Lành lại lấy 4 cuốn Kinh Phúc âm làm giáo nghĩa cơ bản….
Về cơ cấu tổ chức thí đứng đầu là Giáo hội [21, tr. Đây là tổ chức tôn giáo theo mô hính kim tự tháp lấy Tòa thánh Roma làm cơ quan quyền lực tối cao. Trƣớc đây, khi nhắc đến giáo hội, Công giáo thƣờng hiểu là một tổ chức mà chủ yếu nhấn mạnh đến chức năng lãnh đạo, truyền giảng bao gồm các chức sắc từ Giáo Hoàng đến các hồng y, giám mục, linh mục, tu sĩ… mà quên mất các tìn đồ, các “con chiên”, cơ sở của công giáo. Ngày nay giáo hội đƣợc Công giáo hiểu bao hàm các giáo phẩm, tu sĩ, giáo dân.
Tức vừa là tổ chức lãnh đạo, chế định ra các thể chế, truyền bá, giáo dục… vừa là toàn thể cộng đồng tôn giáo. Cơ quan lãnh đạo giáo hội công giáo thế giới ở Toà thánh Vaticăng, do Giáo hoàng [21, tr. 350] trực tiếp lãnh đạo, bên dƣới là đoàn Hồng y giáo chủ do chình Giáo hoàng bổ nhiệm. Cơ quan chủ yếu của Toà thánh gồm có: Quốc vụ viện, Cục văn thƣ, Cục tài chình, Toà án, Thánh bộ và Ban bì thƣ.
16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quan niệm của Kitô giáo nói chung, Giáo hoàng là ngƣời kế vị Thánh Pierre [21, tr. 350] và thay mặt Đức Chúa Giêsu làm đầu Hội thánh ở trần gian.