CHƯƠNG 1: NHẬN DIỆN GIAN LẬN TRONG KIỂM TOÁN BCTC VÀ VAI TRÒ KTV ĐỘC LẬP 1. Tổng quan về gian lận trên BCTC, Kiểm toán, Kiểm toán độc lập 1. Lịch sử phát triển về gian lận Gian lận xuất hiện cùng với sự xuất hiện của xã hội loài người. Cùng với quá trình phát triển của xã hội, hành vi gian lận ngày càng tinh vi hơn và biểu hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Gian lận có thể xuất hiện ở mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực của xã hội. Trong đó, gian lận thông tin trên BCTC là một trong những chủ đề thời sự hiện nay, điều này đã khiến các nhà lập pháp chú trọng hơn tới hoạt động kiểm toán tại các DN và chất lượng của các chuẩn mực kiểm toán. Khởi điểm của gian lận là do chuyển từ cuộc sống riêng biệt của từng cá thể sang chung sống thành cộng đồng. Hình thức phôi thai của gian lận là hành vi biển thủ tài sản nhằm thoả mãn các nhu cầu cá nhân.
Lịch sử phát triển các công trình nghiên cứu về gian lận Như vậy, có thể thấy gian lận là hành vi thiếu trung thực, không hợp pháp, xuyên tạc sự thật nhằm lừa gạt người khác để thu được một lợi ích nào đó. Gian lận chủ yếu liên quan tới tài sản và gian lận trên BCTC. Việc phù phép BCTC là hiện tượng khá phổ biến trong các DN của nước ta hiện nay. BCTC bị phù phép với động cơ tích cực, thực sự phát huy tác dụng của mình cho DN khi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty, nâng cao lợi nhuận theo kế hoạch, đảm bảo một số hệ tài chính mà công ty đặt ra, và trở thành công cụ can thiệp hữu hiệu vào số liệu tài chính.
Khái niệm về gian lận, kiểm toán, độc lập 1. Khái niệm về gian lận Tại Việt Nam, các biện pháp kiểm toán đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ở cấp độ cơ sở dẫn liệu đã được đánh giá có thể bao gồm việc thay đổi nội dung, lịch trình và phạm vi của các TT kiểm toán theo các hình thức sau đây: Nội dung của các TT kiểm toán sẽ thực hiện có thể cần thay đổi, nhằm thu thập các bằng chứng kiểm toán phù hợp và đáng tin cậy hơn hoặc để thu thập thêm 13 các thông tin chứng thực bổ sung. Việc này, có thể ảnh hưởng đến loại TT kiểm toán và sự kết hợp giữa các loại TT này. Ví dụ: Việc quan sát hoặc kiểm tra thực tế một số tài sản có thể trở nên quan trọng hơn, hoặc KTV có thể chọn cách sử dụng các kỹ thuật kiểm toán được máy tính trợ giúp, để thu thập nhiều bằng chứng hơn về các dữ liệu trong các tài khoản hoặc các tài liệu (file) giao dịch điện tử quan trọng KTV có thể thiết kế các TT kiểm toán bổ sung, nhằm thu thập thêm các thông tin chứng thực.
Ví dụ, nếu KTV xác định được rằng, BGĐ đang chịu áp lực để đạt được mục tiêu lợi nhuận, có thể có rủi ro là BGĐ đang ghi nhận thừa doanh thu bằng cách ký kết các hợp đồng bán hàng có điều khoản cho phép ghi nhận doanh thu trước, hoặc phát hành hóa đơn bán hàng trước khi giao hàng. Trong trường hợp này, KTV có thể thiết kế các xác nhận độc lập không chỉ xác nhận số dư mà còn xác nhận chi tiết về các hợp đồng bán hàng, bao gồm ngày ký, quyền trả lại hàng bán và điều khoản giao hàng. Ngoài ra, để bổ sung cho các xác nhận độc lập trên, KTV có thể phỏng vấn các nhân viên không thuộc phòng Tài chính trong đơn vị, về bất kỳ thay đổi nào trong các hợp đồng bán hàng và các điều khoản giao hàng. Lịch trình thực hiện các thử nghiệm cơ bản có thể cần điều chỉnh lại.
KTV có thể xác định rằng, việc thực hiện thử nghiệm cơ bản tại ngày hoặc gần ngày kết thúc kỳ báo cáo, sẽ hiệu quả hơn đối với những rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận đã được đánh giá. KTV có thể kết luận rằng, do có sai sót cố ý hoặc thao túng có chủ định đã được đánh giá, các TT kiểm toán để suy rộng kết luận kiểm toán từ thời điểm giữa kỳ đến thời điểm cuối kỳ sẽ không hiệu quả. Ngược lại, do một sai sót cố ý (như sai sót liên quan đến việc ghi nhận doanh thu) có thể xuất phát từ giữa kỳ, KTV có thể lựa chọn áp dụng thử nghiệm cơ bản đối với các giao dịch phát sinh từ trước đó trong kỳ, hoặc đối với các giao dịch phát sinh trong toàn bộ kỳ báo cáo. Phạm vi các TT được áp dụng, tùy thuộc vào đánh giá của KTV đối với rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận.
Ví dụ, việc tăng cỡ mẫu hoặc việc thực hiện các TT phân tích chi tiết hơn có thể là cần thiết. Đồng thời, các kỹ thuật kiểm toán được máy tính trợ giúp, có thể cho phép thực hiện thử nghiệm sâu hơn về 14 các giao dịch và dữ liệu điện tử. Các kỹ thuật này, có thể được sử dụng để chọn mẫu các giao dịch điện tử chính, phân loại các giao dịch với những đặc điểm cụ thể, hoặc để thử nghiệm toàn bộ tổng thể thay vì một mẫu. Nếu KTV phát hiện rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ảnh hưởng đến số lượng hàng tồn kho, việc kiểm tra sổ kế toán hàng tồn kho của đơn vị có thể giúp xác định địa điểm hoặc các khoản mục cần lưu ý đặc biệt trong hoặc sau khi kiểm kê hàng tồn kho.
Việc rà soát này, có thể dẫn đến quyết định thực hiện quan sát kiểm kê hàng tồn kho tại một số địa điểm nhất định, không được thông báo trước hoặc thực hiện kiểm kê hàng tồn kho tại toàn bộ các địa điểm vào cùng một thời điểm. KTV có thể xác định rủi ro có sai sót trọng yếu do gian lận ảnh hưởng đến một tài khoản và cơ sở dẫn liệu. Các tài khoản và cơ sở dẫn liệu này có thể bao gồm: Đánh giá tài sản, các ước tính kế toán liên quan đến các giao dịch cụ thể (như các giao dịch mua lại, tái cơ cấu hoặc thanh lý một bộ phận kinh doanh) và các khoản nợ quan trọng khác đã phát sinh (như nghĩa vụ khắc phục ô nhiễm môi trường). Rủi ro cũng có thể liên quan đến những thay đổi lớn về các giả định liên quan đến các ước tính.
Các thông tin thu thập được, thông qua việc tìm hiểu đơn vị và môi trường hoạt động của đơn vị, có thể giúp KTV đánh giá tính hợp lý của các ước tính kế toán và các xét đoán, giả định làm cơ sở cho ước tính của BGĐ. Việc xem xét lại các xét đoán và giả định tương tự của BGĐ đã áp dụng trong các kỳ trước, sẽ giúp KTV hiểu rõ hơn về tính hợp lý của các xét đoán và giả định làm cơ sở cho các ước tính của BGĐ. Khái niệm kiểm toán Ở Việt Nam, khái niệm kiểm toán mới xuất hiện vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, với sự ra đời của các công ty kiểm toán và tư vấn tài chính trực thuộc Bộ Tài chính. Thuật ngữ kiểm toán đã được nhiều nhà kinh tế học bàn tới, trong đó, nổi bật là khái niệm kiểm toán trong Giáo trình kiểm toán (2009) của Trường Đại học Kinh tế Thành Phố Hồ Chí Minh như sau: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và 15 độc lập”. Đây là khái niệm diễn đạt đầy đủ nội dung của hoạt động kiểm toán và sẽ được người viết sử dụng xuyên suốt trong bài. Theo đó, kiểm toán là một quá trình chứ không phải là một hoạt động đơn lẻ; quá trình đó phản ánh hoạt động của các chuyên gia độc lập, có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ; thông qua hoạt động kiểm toán, các chuyên gia có thể thu thập, định lượng, đánh giá các thông tin về chủ thể kinh tế so với chuẩn mực đã xác định. Quan niệm về kiểm toán như trên rất rộng mở về nội dung đã thoát ly được quan niệm truyền thống về kiểm toán, đó là chỉ kiểm tra các bản kê khai tài chính, các tài khoản mà đã phát triển việc kiểm toán tuân thủ các quy định của pháp luật; nội quy, quy chế của chủ thể kinh tế cũng như kiểm toán hoạt động nhằm đánh giá tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong việc quản lý các nguồn lực của một tổ chức, đơn vị, xí nghiệp.
Như vậy, kiểm toán là quá trình các chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng về các thông tin có thể định lượng của một đơn vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực đã được xây dựng 1. Khái niệm kiểm toán độc lập Trong nền kinh tế thị trường các thông tin tài chính có độ tin cậy, chính xác và trung thực hết sức cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với các chủ thể trong các hoạt động kinh tế, kiểm toán độc lập hình thành nhằm đáp ứng nhu cầu này của nền kinh tế. Theo Điều 5, Luật kiểm toán độc lập số 67/2011/QH12 nêu khái niệm: “Kiểm toán độc lập là việc KTV hành nghề, DN kiểm toán, chi nhánh DN kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về BCTC và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”. Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các KTV thuộc những tổ chức kiểm toán độc lập.
Họ thường thực hiện kiểm toán BCTC, và tùy theo yêu cầu của khách hàng, họ còn cung cấp nhiều dịch vụ khác như kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, tư vấn về kế toán, thuế, tài chính… Hiện nay, theo nghĩa thông dụng, thuật ngữ kiểm toán thường được hiểu là kiểm toán BCTC, và KTV thường được hiểu là KTV độc lập. Bên cạnh đó, thuật 16 ngữ KTV cũng dùng chỉ người chịu trách nhiệm chính và ký tên trên BCKT, hay để chỉ DN kiểm toán độc lập. Đặc điểm phân loại gian lận Có hai loại gian lận mà KTV cần quan tâm là gian lận xuất phát từ việc lập BCTC và gian lận do biển thủ tài sản.