Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA KIỂM SÁT VIÊN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ 1. Khái niệm vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự 1. Khái niệm Kiểm sát viên Hệ thống cơ quan tiến hành tố tụng trong TTHS ở Việt Nam bao gồm Cơ quan điều tra, VKS, Tòa án. Mỗi cơ quan đều có vai trò nổi bật ở những giai đoạn tố tụng khác nhau.
Trong ba cơ quan nêu trên chỉ có duy nhất VKS là cơ quan tiến hành tố tụng tham gia xuyên suốt toàn bộ quá trình giải quyết vụ án hình sự. Từ khi thành lập đến nay,VKS với đội ngũ cán bộ, công chức có năng lực chuyên môn, phẩm chất chính trị vững vàng, đạo đức chuẩn mực đã có những đóng góp to lớn vào công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, vi phạm pháp luật, phát hiện chính xác và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan ngƣời vô tội; bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa, quyền con ngƣời, quyền công dân đƣợc tôn trọng; trật tự an ninh, an toàn xã hội đƣợc giữ vững. Đóng góp vào thành tích đáng tự hào của VKS là hoạt động của đội ngũ Kiểm sát viên – những ngƣời đại diện trực tiếp cho VKS tham gia quá trình TTHS theo quy định của pháp luật. Nói tới vai trò là nói tới tác dụng, chức năng của ai hoặc của cái gì trong sự hoạt động, sự phát triển chung của một tập thể, một tổ chức, một quá trình, một sự việc.
Vai trò của một chủ thể đƣợc xác định từ tƣ cách, vị trí của chủ thể đó trong một tập thể, tổ chức, trong một quá trình, sự việc. Để xác định vai trò của Kiểm sát viên cần xuất phát từ cách tiếp cận về Kiểm sát viên trong một mối quan hệ nhất định, một thiết chế nhất định. Theo Từ điển Bách khoa toàn thƣ, “Kiểm sát viên là cán bộ của cơ quan kiểm sát được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật, có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân” [22, tr. Từ điển 7 Bách khoa toàn thƣ chỉ ra nội hàm của khái niệm Kiểm sát viên gồm ba nội dung: 1, là cán bộ của cơ quan kiểm sát – Kiểm sát viên ở đây có tƣ cách là một cán bộ trong thiết chế cơ quan kiểm sát; 2, đƣợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật; và 3, có thẩm quyền và nghĩa vụ luật định, thực hiện chức năng kiểm tra giám sát việc chấp hành triệt để nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nƣớc, tổ chức xã hội và công dân.
Tuy nhiên, nội dung thứ ba không còn phù hợp, không chính xác tại thời điểm hiện tại khi chức năng của VKS đã thay đổi, Kiểm sát viên là ngƣời tiến hành tố tụng của VKS thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tƣ pháp của VKS. Theo Từ điển Luật học thì: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố” [57, tr. Khái niệm này chƣa phản ánh rõ địa vị pháp lý của Kiểm sát viên mà chỉ thể hiện nhiệm vụ của Kiểm sát viên theo chức năng của VKS đƣợc quy định trong Hiến pháp, Luật tổ chức VKSND tại thời điểm đƣa ra khái niệm và không còn phù hợp với thời điểm hiện tại. Pháp lệnh Kiểm sát viên năm 2002 định nghĩa: “Kiểm sát viên là người được bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để làm nhiệm vụ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp” [55, Điều 1].
Khái niệm trên đã xác định đúng về nhiệm vụ của Kiểm sát viên từ giác độ chức năng hiện hành của VKSND nhƣng cũng tồn tại những hạn chế trong cách xây dựng khái niệm nhƣ trong Từ điển Luật học. Theo chúng tôi, để làm rõ khái niệm và vai trò của Kiểm sát viên, thứ nhất, cần khẳng định Kiểm sát viên là một công chức Nhà nƣớc, là công chức nhà nƣớc có nghĩa trƣớc tiên họ phải thỏa mãn các điều kiện của một công chức trong bộ máy Nhà nƣớc. Theo Luật cán bộ công chức năm 2008 thì Kiểm sát viên là công chức Nhà nƣớc, có nghĩa họ phải là công dân Việt Nam đƣợc tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thƣờng xuyên trong các cơ quan nhà nƣớc ở Trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện, hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc, đƣợc xếp vào một ngạch công chức nhất định. Kiểm sát viên là một công chức của VKS – ngƣời đƣợc bổ nhiệm theo quy định của pháp luật để thực hiện chức năng của VKS là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tƣ pháp.
VKS thực hiện chức 8 năng, nhiệm vụ của mình thông qua hệ thống công chức là ngƣời tiến hành tố tụng nhƣ Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng, Kiểm sát viên, Kiểm tra viên và những công chức khác, những bộ phận giúp việc khác. Nhƣ vậy, Kiểm sát viên là một trong số các công chức góp phần thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của VKS. Hiến pháp 2013 quy định: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp” [47, Điều 107]. Kiểm sát viên là chủ thể tiến hành tố tụng, có vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc thực hiện chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án hình sự của VKS.
Thứ hai, Kiểm sát viên là một chức danh tƣ pháp, chức danh này đƣợc sử dụng để định danh một ngƣời hành nghề luật, làm việc trong hệ thống tƣ pháp mà cụ thể là chỉ ngƣời làm việc trong VKS, nhân danh Nhà nƣớc tham gia vào các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật.TS Võ Khánh Vinh cho rằng: Chức danh tƣ pháp chỉ những ngƣời thực hiện nhiệm vụ trong các cơ quan tƣ pháp (điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án) đƣợc đào tạo kỹ năng thực hành nghề và hành nghề theo một chuyên môn nhất định, có danh xƣng, đƣợc bổ nhiệm hoặc thừa nhận theo pháp luật khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn và điều kiện xác định theo quy định của pháp luật [68, tr. Nhƣ vậy, từ khía cạnh thứ hai, có thể hiểu Kiểm sát viên là một chức danh tƣ pháp, thực hiện một loại hình nghề luật tƣơng ứng – nghề công tố/nghề kiểm sát tùy theo quan điểm của mỗi quốc gia trên thế giới và sẽ có vai trò tƣơng ứng với tính chất nghề nghiệp của họ trong sự phân công lao động xã hội. Thứ ba, khi đƣợc phân công giải quyết các vụ án hình sự, dân sự, kinh doanh thƣơng mại… Kiểm sát viên là một loại ngƣời tiến hành tố tụng, có các thẩm quyền tiến hành tố tụng, có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm thực hiện các quyết định và hành vi tố tụng và cũng phải chịu trách nhiệm cá nhân đối với các quyết định, hành vi tố tụng do họ thực hiện. ở khía cạnh này, Kiểm sát viên có vai trò tố tụng của họ trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Nhƣ vậy, cả ba tƣ cách này của Kiểm sát viên đều gắn với hoạt động nghề 9 nghiệp của họ. Trong đó, tƣ cách ngƣời tiến hành tố tụng của Kiểm sát viên thể hiện cả tƣ cách của một công chức nhà nƣớc làm việc tại VKS và tƣ cách ngƣời hoạt động nghề nghiệp. Tƣ cách ngƣời tiến hành tố tụng gắn với một vụ án, vụ việc cụ thể mà họ đƣợc phân công thụ lý và cũng thể hiện đầy đủ, trọn vẹn vai trò nghề nghiệp của họ. Khái niệm giải quyết vụ án hình sự và vai trò của Kiểm sát viên trong quá trình giải quyết vụ án hình sự Giải quyết vụ án hình sự là một khái niệm đƣợc nhắc đến khá thƣờng xuyên trong quá trình TTHS.
Tuy nhiên, hiện nay chƣa có định nghĩa hoàn chỉnh và thống nhất về khái niệm này. Trong cuốn Sổ tay kiến thức pháp luật của Điều tra viên, tại trang 288, tác giả Nguyễn Ngọc Anh nhận định: “Trong tố tụng hình sự, xử lý vụ án hình sự chính là việc giải quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng thông qua các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành bản án hình sự. Xử lý vụ án còn có một cách gọi khác là giải quyết vụ án” [1]. Nhƣ vậy, có thể hiểu giải quyết vụ án hình sự chính là tất cả các hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án.
Chúng tôi cho rằng, theo cách hiểu thông thƣờng mang tính chất phổ biến thì giải quyết đƣợc hiểu là việc một chủ thể quyết định thực hiện một hay nhiều hoạt động để nhằm đạt đƣợc mục đích nhất định nào đó. Giải quyết vụ án hình sự là hoạt động đƣợc thực hiện bởi các chủ thể, cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt động tố tụng mang tính quyền lực nhà nƣớc. Nội dung giải quyết vụ án hình sự là các hành vi, quyết định nhằm xác định hành vi phạm tội; xác định và giải quyết trách nhiệm hình sự của ngƣời phạm tội, xử lý các vấn đề liên quan đến ngƣời phạm tội và các vấn đề khác của vụ án. Giải quyết vụ án hình sự theo nghĩa hẹp bao gồm những “hoạt động quyết định những vấn đề liên quan đến sự tồn tại, kết thúc vụ án (quyết định khởi tố vụ án, đình chỉ điều tra, đình chỉ vụ án…), mở rộng hay thu hẹp phạm vi điều tra vụ án hoặc quyết định đƣa vụ 10 án tới những thời điểm tố tụng quan trọng (kết thúc điều tra đề nghị truy tố chuyển sang VKS, quyết định truy tố bằng bản cáo trạng, quyết định đƣa cụ án ra xét xử, quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung…)” [8].
Theo nghĩa rộng có thể định nghĩa giải quyết vụ án hình sự là hoạt động của những chủ thể có thẩm quyền tiến hành tố tụng theo quy định của pháp luật quyết định những vấn đề liên quan đến phạm vi, tính chất, tiến độ của vụ án hình sự.