CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Các khái niệm cơ bản liên quan 1. Khái niệm thương binh Theo điều 12 Pháp lệnh ưu đãi người hoạt động cách mạng, liệt sĩ và gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh, người hoạt động kháng chiến, người có công giúp đỡ cách mạng được Ủy ban thường vụ quốc hội thông qua ngày 29/08/1994 có quy định: Thương binh là quân nhân, công an nhân dân do chiến đấu, phục vụ chiến đấu trong kháng chiến, bảo vệ Tổ quốc, làm nghĩa vụ quốc tế hoặc trong đấu tranh chống thực dân Pháp, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên và được cơ quan có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh”, tặng “Huy hiệu thương binh”. Quy định như vậy phù hợp với hoàn cảnh đất nước hòa bình, mở rộng khái niệm thương binh cho cả những trường hợp bị thương khi “đấu tranh chống tội phạm, dũng cảm làm nhiệm vụ đặc biệt khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của nhà nước và nhân dân” [9].
Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng số 02/2020/PL-UBTVQH14 ngày 09/12/2020 ra đời, thay thế Pháp lệnh năm 2005 đã có quy định thống nhất, rõ ràng về khái niệm thương binh tại Khoản 1 điều 23 [10].Thương binh là quân nhân, công an nhân dân bị thương làm suy giảm khả năng lao động từ 21% trở lên, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh” và “Huy hiệu thương binh” thuộc một trong các trường hợp sau đây: Chiến đấu, trực tiếp phục vụ chiến đấu; Bị địch bắt, tra tấn vẫn không chịu khuất phục, kiên quyết đấu trạng, để lại thqơng tích thực thể; Làm nghĩa vụ Quốc tế; Đấu tranh chống tội phạm; Dũng cảm thực hiện những công việc cấp bách nguy hiểm phục 15 Người thực hiện: Lê Thị Thúy Mơ GVHD: ThS. Phan Thị Cẩm Giang vụ quốc phòng, an ninh, dũng cảm cứu người, tài sản của Nhà nước và nhân dân; Làm nhiệm vụ quốc phòng, an ninh ở địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Từ quy định này, có thể hiểu khái niệm thương binh như sau: Thương binh là những người thuộc lực lượng vũ trang do chiến đấu, phục vụ đấu bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế, đấu tranh phòng chống tội phạm, dũng cảm thực hiện những nhiệm vụ khó khăn, nguy hiểm vì lợi ích của Nhà nước, của nhân dân mà bị thương, mất sức lao động từ 21% trở lên, được cơ quan thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận thương binh”, tặng “Huy hiệu thương binh”. Khái niệm bệnh binh Đối với bệnh binh, được quy định từ Điều 26 Pháp lệnh về người có công với cách mạng năm 2020 [10].
Theo đó: Bệnh binh là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công an nhân dân mắc bệnh làm suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên khi làm nhiệm vụ cấp bách, nguy hiểm mà khoonh đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí thì được cơ quan, đơn vị có thẩm quyền cấp “Giấy chứng nhận bệnh binh” Như vậy, bệnh binh là những người có nhiều công lao, đóng góp cho cách mạng, cho đất nước, thường là những người tuổi đã cao, sức khỏe yếu do tuổi tác, thương tật, bệnh tật, họ tiếp tục có nhiều đóng góp xây dựng đất nước, luôn trăn trở trước tình trạng của đất nước, họ luôn nhớ về quá khứ anh hùng của cách mạng, của dân tộc, đất nqớc và những người cùng hoạt động cách mạng, những đồng đội đã hi sinh; tình nguyện tham gia vào những hoạt động đi tìm đồng đội, gắn kết nhau trong các ban liên lạc đồng ngũ, cùng bị tù đày, cùng chiến đấu. họ thường 16 Người thực hiện: Lê Thị Thúy Mơ GVHD: ThS. Phan Thị Cẩm Giang đi tiên phong trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí và bảo vệ những thành quả cách mạng. Khái niệm đời sống kinh tế Đời sống hay hoàn cảnh sống là tất cả những gì ở bên ngoài con người, tác động tới con người.
Trong hoàn cảnh sống được chia làm hai loại: hoàn cảnh tự nhiên và hoàn cảnh xã hội. Hoàn cảnh tự nhiên bao gồm các điều kiện tự nhiên – hệ sinh thái phục vụ cho các hoạt động sinh sống của con người. Hoàn cảnh địa lí, nước, không khí, đất đai, động vật, thực vật, khí hậu, thời tiết. đều thuộc hoàn cảnh tự nhiên Hoàn cảnh xã hội bao gồm cả một hệ thống chính trị, kinh tế, xã hội – lịch sử, văn hóa, giáo dục được thiết lập.
Con người hòa nhập được với xã hội thông qua môi trường này. Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Vậy, đời sống kinh tế bao gồm tất cả các điều kiện phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của con người như: thu nhập, việc làm, hoàn cảnh sống, nhà ở, và sức khỏe.
Khái niệm ưu đãi xã hội Ưu đãi xã hội được hiểu là sự đãi ngộ của Nhà nước cộng đồng và toàn xã hội về đời sống về vật chất cũng như tinh thần đối với người có công cũng như gia đình của họ [11]. Chính sách ưu đãi xã hội là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta. Căn cứ vào nhiệm vụ chính trị, kế hoạch phát triển, tình hình kinh tế - chính trị - xã hội ở mỗi thời kỳ mà Đảng, Nhà nước ta đưa ra những chính sách ưu đãi khác nhau đối với người có công để ghi nhận những đóng góp, công lao to lớn 17 Người thực hiện: Lê Thị Thúy Mơ GVHD: ThS. Phan Thị Cẩm Giang của người có công; thể hiện sự quan tâm, biết ơn của Đảng, Nhà nước và nhân dân đối với sự hy sinh, cống hiến của họ cho đất nước; bù đắp một phầnnào đó cho họ về đời sống vật chất cũng như tinh thần.
Ngay từ những ngày đầu giành được chính quyền (năm 1945), tuy còn nhiều khó khăn, phải đương đầu với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược nhung Đảng và Nhà nước ta vẫn rất chú trọng đến công tác xây dựng cũng như thực hiện chính sách này. Chính sách ưu đãi đối với người có công là một chính sách đặc biệt giành cho những đối trọng đặc biệt. Vì thế, Nhà nước với vai trò và chức năng của mình, sử dụng các biện pháp khác nhau để xây dựng và triển khai đưa các chính sách ưu đãi với NCC vào cuộc sống. Khái niệm chính sách xã hội Chính sách xã hội là một hệ thống quan điểm, chủ trương, biện pháp dựa trên những tư tưởng, quan điểm của chủ thể lãnh đạo, được cụ thể hóa và thể chế hóa bằng pháp luật của Nhà nước để giải quyết các vấn đề xã hội phù hợp với bản chất chế độ xã hội (chính trị), phản anh lợi ích, trách nhiệm của cộng đồng nói chung và của từng nhóm xã hội nói riêng, nhằm mục đích thỏa mãn những nhu cầu ngày càng tăng về đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân, góp phần ổn định, an toàn xã hội, phát triển và tiến bộ xã hội (giáo trình chính sách xã hội) 1.
Công tác xã hội với thương binh, bệnh binh Theo Bùi Thị Xuân Mai: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [1]. 18 Người thực hiện: Lê Thị Thúy Mơ GVHD: ThS. Phan Thị Cẩm Giang Với đối tượng là thương binh, bệnh binh công tác xã hội không chỉ can thiệp giải quyết vấn đề cá nhân do những hạn chế về sức khỏe, thể chất, tinh thần, mà cón có thể cung cấp, kết nối họ tiếp cận những nguồn lực nhằm giải quyết các vấn đề khó khăn trong cuộc sống. Những trợ giúp đó được thực hiện bằng các phương pháp chuyên môn, kỹ năng của công tác xã hội như: tham vấn, can thiệp khủng hoảng, truyền thông, biện hộ, kết nối… Như vậy, công tác xã hội đối với thương, bệnh binh là một lĩnh vực đặc thù của công tác xã hội ở Việt Nam với mục tiêu hỗ trợ các đối tượng nâng cao kỹ năng giải quyết vấn đề và kết nối họ với các nguồn lực để đáp ứng nhu cầu của họ.
đáp ứng nhu cầu vật chất, tinh thần, đồng thời góp phần lan tỏa chính sách ưu đãi người có công với cách mạng đến cộng đồng, hỗ trợ thương, bệnh binh tái hòa nhập xã hội, tiếp tục cống hiến cho Tổ quốc. Chính sách ưu đãi xã hội với thương binh, bệnh binh Chính sách xã hội cho thương binh, bệnh binh thể hiện truyền thống tốt đẹp của chúng ta “ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, nó thể hiện sự quan tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta với thế hệ đã “sẵn sàng chiến đấu, hi sinh vì sự độc lập tự do của Tổ quốc”. Trong đó, có rất nhiều chính sách cụ thể: chính sách trợ cấp, chính sách bảo hiểm, chính sách điều dưỡng, chính sách chăm sóc sức khỏe, chính sách ưu đãi trong kinh tế. cho người có công nói chung và thương bệnh binh nói riêng.
Trong đề tài này, tôi thực hiện nghiên cứu về đời sống kinh tế của thương bệnh binh. Thông tư liên tịch số 01/2012/TTLT-BQP-BLĐTBXH-BTC ngày 05/01/2012 hướng dẫn thực hiện Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg ngày 09 tháng 11 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về chế độ, chính sách đối với đối tượng 19 Người thực hiện: Lê Thị Thúy Mơ GVHD: ThS. Phan Thị Cẩm Giang tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc [2]. Nghị định 31/2013/NĐ-CP ngày 9/4/2013 quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh ưu đãi người có công với cách mạng [3] Nghị định số 75/2021/NĐ-CP ngày 24/07/2021 Quy định mức trợ cấp, phụ cấp ưu đãi đối với NCCVCM [4].
Phát huy truyền thống “Uống nước nhờ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính sách, chế độ để chăm lo đời sống vật chất và tinh thần của thương, bệnh binh, giải quyết những hậu quả, những tồn đọng về chính sách sau chiến tranh.