Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, QUAN ĐIỂM VÀ CÁCH TIẾP CẬN CỦA LUẬN ÁN 1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 1.1 Nghiên cứu về trưng bày bảo tàng - Các nghiên cứu về lý luận trưng bày nói chung Do sự phát triển của xã hội hiện đại, sự thay đổi liên tục của môi trường xã hội mà bảo tàng tồn tại, năm 2001 học giả Vương Hoằng Quân – dưới nhãn quan của Bảo tàng học Trung Quốc nhận định bảo tàng phải “lấy con người làm gốc” là tôn chỉ hoạt động, lấy việc “giúp cho sự phát triển và thoả mãn nhu cầu giải trí của con người” làm nhiệm vụ trọng yếu, tham dự vào xã hội và phục vụ xã hội [43,tr. Đây là xu hướng phát triển quan trọng của Bảo tàng và Bảo tàng học trong thế kỷ XXI. Hiểu trưng bày bảo tàng là hệ thống đối tượng – không gian tổng thể trong đó hiện vật bảo tàng và những tài liệu trưng bày khác được kết hợp lại bởi ý tưởng khái niệm (khoa học và nghệ thuật) [25], Kaulen M.E – học giả Bảo tàng Nga cho rằng nếu coi kho bảo tàng là “từ điển” thì trưng bày là “bài viết” được viết nhờ sự hỗ trợ của nguyên tắc “ngữ pháp trưng bày”. Kết cấu trưng bày theo lịch sử hệ thống là một cách làm phổ biến giúp nhà bảo tàng học “đọc” một cách dễ dàng còn khách tham quan “đọc” khó khăn hơn đôi chút.
Cũng trong công trình nghiên cứu này các nhà bảo tàng học nhận thấy cách tiếp cận trên không công nhận giá trị tự thân của hiện vật bảo tàng mà ưu thế dựa vào các hoạ sĩ, các hoạ sĩ thì “lộng hành” đối với loại hình tác phẩm như một nhóm những hiện vật bảo tàng, cơ cấu khoa học của trưng bày… [25, tr.313] Đã đến lúc bảo tàng cần thay đổi, quan trọng nhất là thay đổi trong tư duy con người vì không ai ngoài nhân viên bảo tàng hiểu rõ bảo tàng mình, bộ sưu tập của mình và khách tham quan của mình. Barry Lord – chuyên gia bảo tàng Canada nhận định sự thay đổi về trưng bày bảo tàng bởi trưng bày bây giờ có thể là ảo, không gian di cư và phương tiện truyền thông đã tạo cơ hội tuyệt vời cho sự tham gia, và chuyển quyền lực từ chuyên gia sang công chúng [59]. Khi khách tham quan bị hạn chế về thời gian trong xã hội hiện đại, đòi hỏi nhà quản lý bảo tàng phải sáng tạo, năng động, tương tác và đa dạng các hoạt động hơn. Ông nhận định, mục đích của trưng bày bảo tàng nhằm biến đổi một số điểm trong sở thích, sự quan tâm hoặc thái độ của khách tham quan một cách xúc động, thông qua sự khám phá một mức độ nào đó ở nội dung trưng bày và được khơi dậy bởi tính xác thực của hiện vật trưng bày [59, tr.
Các bảo tàng cũng nhận thấy, khi chia sẻ quyền phát triển ý tưởng trưng bày hay diễn giải về bộ sưu tập cho cộng đồng hoặc đối tượng công chúng mục tiêu mà đợt trưng bày bảo tàng hướng tới sẽ thành công hơn với tầm nhìn dài hạn, tuy nhiên không được coi nhẹ sự nguyên vẹn của sưu tập và công tác nghiên cứu trưng bày. 10 Ở Việt Nam, từ những năm 1967, công trình nghiên cứu đầu tiên về Khoa học Bảo tàng của tác giả Đào Duy Kỳ đã kế thừa một số kinh nghiệm của Bảo tàng học Liên Xô vào điều kiện thực hành bảo tàng ở Việt Nam, đúc kết kinh nghiệm của Viện Bảo tàng Cách Mạng Việt Nam và nhiều bảo tàng khác để mạnh dạn đưa lên một số nhận thức về nhiều vấn đề được giới cán bộ bảo tàng bàn luận, đặc biệt về hoạt động trưng bày. Phương châm giai đoạn thập kỷ 60 cho rằng, cán bộ bảo tàng phải thấm nhuần đề cương trưng bày, lựa chọn hiện vật quý giá và thích hợp để đưa ra trưng bày [26, tr. Phương pháp trưng bày tốt nhất là phương pháp đảm bảo được sự lựa chọn hiện vật trưng bày theo đúng đề cương khoa học, đảm bảo có phong cách độc đáo.156] Trả lời câu hỏi Tại sao phải đổi mới trưng bày? Nguyễn Hải Ninh [33, tr.82-88] cho rằng nó xuất phát từ các nhu cầu: nhu cầu bảo quản, kết quả các nghiên cứu liên quan, mong muốn tìm hiểu của khách tham quan, cần phối hợp với cộng đồng, sự phát triển của công nghệ thông tin.
Tác giả cũng nhận định nếu coi đổi mới trưng bày là thay đổi các sứ mệnh, tầm nhìn và mục tiêu trưng bày thì nhiệm vụ không chỉ là in lại ảnh, sơn lại tường, làm lại vách cũ mà đổi mới cần phải bắt nguồn từ những phương pháp tiếp cận mới, những cách nhìn mới về lịch sử cũng như con người. Trong một nghiên cứu khác, Nguyễn Hải Ninh [32, tr.103-107] nhận định, đánh giá trưng bày là một hoạt động rất quan trọng tuy chưa phổ biến trong các bảo tàng ở Việt Nam nói chung hay hệ thống quản lý tại các bảo tàng nói riêng. Đánh giá trưng bày giúp các nhà quản lý bảo tàng nhận biết được khả năng phản ứng với các trường hợp rủi ro có thể xảy ra với trưng bày, hiện vật và khách tham quan. Kết quả đánh giá sẽ giúp bảo tàng phân định được nhóm khách tham quan thường xuyên, từ đó xây dựng được các trưng bày phù hợp và hấp dẫn.
Tiếp cận trưng bày nghiên cứu dưới góc độ nhân học qua một số phương pháp và thực hành, tác giả Nguyễn Trường Giang nhấn mạnh đến việc trưng bày có sự tham gia của cộng đồng nhằm xây dựng nên các sản phẩm nghiên cứu, phim cộng đồng, triển lãm kể chuyện bằng hình ảnh gắn với di sản cộng đồng thực hành/lăng kính cộng đồng nhìn nhận,… tác giả cho rằng đó là sự tiến bộ của xã hội [54, tr. Bàn về lý thuyết trưng bày, các công trình nghiên cứu cho thấy có 2 xu hướng: (1) Quan tâm đến yếu tố chính trị, hàn lâm, hướng tới mục đích khoa học; trưng bày tuân thủ theo đề cương nghiên cứu, kiến thức truyền tải đến khách tham quan khoa học theo chuẩn mực định sẵn; thiết kế trưng bày phụ thuộc vào xu hướng thẩm mỹ của “hoạ sĩ”. (2) Xu hướng gần đây hơn cho rằng, trưng bày hướng tới yếu tố tương tác, nội dung trưng bày được kể qua câu chuyện hiện vật, kiến thức được truyền tải thông qua cách thực hành di sản văn hoá của chủ thể. Nhận thức của công chúng sau tham quan về đối tượng trưng bày dựa trên câu chuyện hiện vật kết hợp với tri thức cá nhân của mỗi người nên cũng có thể một vấn đề có nhiều cách hiểu khác nhau; thiết kế trưng bày đơn giản nhằm tôn vinh giá trị hiện vật.
11 - Các nghiên cứu bàn về thực tiễn hoạt động trưng bày Tác giả Vid Goding và Wayne Modest [98] - học giả nghiên cứu tại Bảo tàng của Leicester, Vương quốc Anh tổng hợp các nghiên cứu điển hình đa dạng, liên quan tới các cộng đồng khác nhau qua hành động thực hành bảo tàng (1) phản ánh thực hành giám tuyển liên quan đến cộng đồng người Mỹ gốc Ấn Độ và người Mỹ gốc Nhật, đưa lịch sử cộng đồng người Mỹ gốc Phi vào bảo tàng và thực hành nghệ thuật cộng đồng của Tyree Guyton (Golding) ở Washington và Los Angeles, Gable ở Virginia và Taylor ở Detroit); cộng đồng bản xứ được xem xét (ở Đài Loan bởi Varutti và Đông nam Alberta, Canada bởi Onciul), cũng như là các cộng đồng tuổi vị thành niên (ở London bởi Modest); (2) thảo luận về yếu tố chính trị trong trưng bày với cộng đồng Romani (Brekke ở Na Uy), cộng đồng di cư (Iervolino ở Ý và Hutchinson ở Úc), cộng đồng chuyên gia và không chuyên về kiến thức Ai Cập cổ đại (Exell in Manchester), và trưng bày lại nghệ thuật ở phía đông bắc nước Anh (Mason, Whitehead, và Graham ở Newcastle). Đúc kết lại từ các trường hợp các nghiên cứu thực tiễn, tác giả chủ biên cho rằng: “Các viện bảo tàng nên cộng tác với cộng đồng – theo những cách không mang tính thông thái; tôn trọng cộng đồng để bảo vệ các giá trị di sản và đảm bảo yếu tố nhân quyền quốc tế” [98, Tr. Nội dung nghiên cứu hướng tới mô hình mới để làm việc thành công với cộng đồng, giải quyết các vấn đề chính trị liên quan đến quyền lực giữa bảo tàng và các cộng đồng khác nhau của họ, đó là một trong những khía cạnh chính của bảo tàng đương đại. Năm 2005, cuốn Hướng dẫn trưng bày bảo tàng (The Manual of Museum Exhibitions) của tác giả Barry Lord (xuất bản năm 2002) được Cục Di sản văn hoá và Bảo tàng DTHVN lựa chọn làm nội dung lớp tập tuấn “Hướng dẫn trưng bày bảo tàng”.
Năm 2014, tác giả Barry Lord và Maria Piacente tái bản sách lần hai [59], do định nghĩa về một trưng bày theo quan điểm bảo tàng học mới đã thay đổi nên việc tái bản là là cần thiết bởi không gian trưng bày có thể là “ảo”, yếu tố “tham gia” xuất hiện, và có sự “di chuyển quyền lực” từ các chuyên gia sang cộng đồng và công chúng. Bên cạnh nội dung khái quát các giai đoạn thực hiện một trưng bày trên thực tế, từ nghiên cứu và bảo tồn đến trưng bày và giáo dục. Cuốn sách được tái bản lần thứ hai khám phá quá trình phát triển trưng bày một cách chi tiết hơn, cung cấp các phương pháp kỹ thuật và thực tiễn mà các chuyên gia bảo tàng cần có. Đặc biệt trong lần tái bản này, tác giả có bổ sung một số bài viết đề cập đến các chương trình mới về quản lý dự án, lập kế hoạch tài chính và đa phương tiện tương tác trong khi vẫn giữ các nội dung thiết yếu liên quan đến việc hình thành trưng bày theo các bước truyền thống.
Ở Việt Nam, đề cập về việc diễn giải tại bảo tàng hay nói cách khác là cách thức trưng bày tại các bảo tàng, tại “Khoá học mùa hè, nghiên cứu và thực hành bảo tàng” do Bảo tàng DTHVN và Trung tâm A&C hỗ trợ thực hiện đã đưa ra định nghĩa, cấu trúc cũng như mục đích trưng bày bảo tàng hướng tới, nhận định về cách tiếp cận/quan điểm làm trưng bày mới: bảo tàng cũng có thể kể câu chuyện của những người bình thường 12 nhất, qua đó thể hiện được chính cuộc sống đương đại [4, tr45-48]. Tác giả Nguyễn Văn Huy cho rằng đó là việc làm khó nhưng không phải không làm được [21, tr.28-35], quan niệm cũ về trưng bày bảo tàng đó là việc đi tìm cái đặc trưng, tiêu biểu mang tính tộc người đã được thay thế bằng việc đi tìm những nét văn hoá đặc trưng trong cuộc sống thường nhật.