Nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì, Hà Nội

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại vqg ba vì huyện ba vì, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Khoa học Môi trường

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2012

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Tri thức bản địa và các vấn đề liên quan

1.1.2. Cộng đồng địa phương

1.1.3. Đa dạng sinh học

1.1.4. Nguồn tài nguyên sinh học và nguồn gen

1.2. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về cây thuốc và bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng

1.2.1. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới

1.2.2. Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở Việt Nam

1.2.3. Tình hình nghiên cứu về bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng trên thế giới

1.2.4. Tình hình nghiên cứu bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng tại Việt Nam

2. CHƯƠNG II: ĐỐI TƯỢNG, MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, phạm vi, địa điểm và thời gian nghiên cứu

2.2. Mục tiêu nghiên cứu

2.3. Nội dung nghiên cứu

2.4. Phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Quan điểm, phương pháp tiếp cận trong nghiên cứu

2.4.2. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin, số liệu

2.4.3. Xử lý, tổng hợp và phân tích số liệu

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Đặc điểm cơ bản xã Ba Vì

3.1.1. Đặc điểm tự nhiên khu vực nghiên cứu

3.1.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.2. Thực trạng bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại khu vực VQG Ba Vì

3.2.1. Các bên liên quan chính trong hoạt động bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại khu vực VQG Ba Vì

3.2.2. Thực trạng quản lý bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại khu vực VQG Ba Vì

3.3. Đánh giá tác động qua lại giữa đời sống cộng đồng dân cư và hiệu quả bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì

3.3.1. Các nguyên nhân cơ bản dẫn tới những tác động bất lợi của các CĐĐP tới nguồn gen cây thuốc ở khu vực VQG Ba Vì

3.3.1.1. Cơ cấu đất canh tác và cơ cấu thu nhập của các CĐĐP vùng đệm VQG Ba Vì
3.3.1.2. Các nguyên nhân cơ bản dẫn tới những tác động bất lợi của các CĐĐP tới nguồn gen cây thuốc ở Ba Vì

3.4. Giải pháp bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì

3.4.1. Tăng cường sự tham gia của các CĐĐP trong công tác bảo tồn, tạo cơ hội việc làm và tăng thu nhập cho người dân

3.4.2. Xây dựng mô hình vườn hàng hoá, nâng cao thu nhập từ diện tích vườn hộ gia đình

3.4.3. Quy hoạch vùng được phép khai thác cây thuốc và nghiên cứu trồng cây thuốc dưới tán rừng trồng thuộc VQG Ba Vì

3.4.4. Thành lập rừng cộng đồng tại các thôn xóm

3.4.5. Phát triển hệ thống khuyến nông khuyến lâm tới xã/thôn

3.4.6. Đẩy mạnh công tác thông tin và tuyên truyền

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Khuyến nghị

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của cộng đồng trong bảo tồn nguồn gen cây thuốc

Cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì. Sự kết hợp giữa tri thức bản địa và các phương pháp bảo tồn hiện đại giúp duy trì và phát triển nguồn gen quý giá này. Cộng đồng địa phương không chỉ là người sử dụng mà còn là những người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Họ có khả năng nhận thức và thực hiện các biện pháp bảo tồn hiệu quả, nhờ vào kinh nghiệm và kiến thức truyền thống của mình.

1.1. Khái niệm về nguồn gen cây thuốc và vai trò của cộng đồng

Nguồn gen cây thuốc là tập hợp các loài thực vật có giá trị dược liệu. Cộng đồng địa phương, với tri thức bản địa phong phú, có khả năng bảo tồn và phát triển nguồn gen này thông qua các hoạt động như trồng trọt và khai thác bền vững.

1.2. Tình hình bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì

VQG Ba Vì là nơi có nhiều loài cây thuốc quý. Tuy nhiên, việc khai thác không bền vững đã dẫn đến sự suy giảm nguồn gen. Cộng đồng địa phương đang nỗ lực bảo tồn thông qua các mô hình phát triển bền vững.

II. Thách thức trong việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì

Mặc dù có nhiều nỗ lực, việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì vẫn gặp phải nhiều thách thức. Sự khai thác quá mức, biến đổi khí hậu và thiếu chính sách hỗ trợ là những vấn đề chính. Cộng đồng địa phương cần được trang bị kiến thức và công cụ để đối phó với những thách thức này.

2.1. Khai thác quá mức và tác động đến nguồn gen

Khai thác quá mức cây thuốc đã dẫn đến sự suy giảm nghiêm trọng về số lượng và chất lượng nguồn gen. Cộng đồng cần nhận thức rõ về tác động của hành vi này để có biện pháp khắc phục.

2.2. Biến đổi khí hậu và ảnh hưởng đến cây thuốc

Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng đến sự phát triển của nhiều loài cây thuốc. Cộng đồng cần có các biện pháp thích ứng để bảo vệ nguồn gen quý giá này.

III. Phương pháp bảo tồn nguồn gen cây thuốc hiệu quả

Để bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì, cần áp dụng các phương pháp bảo tồn bền vững. Việc kết hợp giữa tri thức bản địa và khoa học hiện đại sẽ mang lại hiệu quả cao hơn trong công tác bảo tồn.

3.1. Tăng cường sự tham gia của cộng đồng địa phương

Cộng đồng địa phương cần được khuyến khích tham gia vào các hoạt động bảo tồn. Việc này không chỉ giúp bảo vệ nguồn gen mà còn tạo ra nguồn thu nhập ổn định cho người dân.

3.2. Xây dựng mô hình vườn cây thuốc

Mô hình vườn cây thuốc sẽ giúp bảo tồn và phát triển nguồn gen. Cộng đồng có thể trồng và chăm sóc các loài cây thuốc quý, từ đó nâng cao giá trị kinh tế.

IV. Ứng dụng thực tiễn trong bảo tồn nguồn gen cây thuốc

Các ứng dụng thực tiễn trong bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì đã cho thấy hiệu quả rõ rệt. Những mô hình bảo tồn dựa vào cộng đồng đã giúp nâng cao nhận thức và tạo ra nguồn thu nhập cho người dân.

4.1. Kết quả từ các mô hình bảo tồn

Các mô hình bảo tồn đã giúp tăng cường sự tham gia của cộng đồng và nâng cao hiệu quả bảo tồn nguồn gen cây thuốc. Nhiều loài cây thuốc quý đã được phục hồi và phát triển.

4.2. Tác động tích cực đến đời sống cộng đồng

Việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc không chỉ giúp bảo vệ tài nguyên thiên nhiên mà còn cải thiện đời sống của cộng đồng địa phương. Nguồn thu nhập từ cây thuốc đã giúp nhiều hộ gia đình ổn định cuộc sống.

V. Kết luận và hướng đi tương lai cho bảo tồn nguồn gen cây thuốc

Bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại VQG Ba Vì là một nhiệm vụ quan trọng và cần thiết. Cộng đồng địa phương đóng vai trò chủ chốt trong việc này. Hướng đi tương lai cần tập trung vào việc nâng cao nhận thức và phát triển các mô hình bảo tồn bền vững.

5.1. Tầm quan trọng của bảo tồn nguồn gen

Bảo tồn nguồn gen cây thuốc không chỉ có ý nghĩa về mặt sinh học mà còn góp phần vào phát triển kinh tế và văn hóa của cộng đồng.

5.2. Đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả

Cần có các chính sách hỗ trợ và khuyến khích cộng đồng tham gia vào công tác bảo tồn. Việc kết hợp giữa tri thức bản địa và khoa học hiện đại sẽ mang lại hiệu quả cao hơn.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

23/07/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vai trò của cộng đồng trong việc bảo tồn nguồn gen cây thuốc tại vqg ba vì huyện ba vì hà nội

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Một số khái niệm 1. Tri thức bản địa và các vấn đề liên quan Thuật ngữ tri thức địa phƣơng (local knowledge) hay “kiến thức bản địa” (Indigenous knowledge) đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong một số công trình nghiên cứu của các nhà nhân học xã hội và nhân học văn hóa vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỷ trƣớc [4]. Những nghiên cứu từ góc độ văn hóa, xã hội, sản xuất, bảo vệ sức khỏe, khai thác và sử dụng nguồn dƣợc liệu, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng, v.v… và gắn vai trò của nó đối với sự phát triển cộng đồng đƣợc triển khai đối với một tộc ngƣời hay một địa bàn dân cƣ chủ yếu tại các nƣớc chƣa phát triển và các nƣớc đang phát triển.

Về nội hàm, hai khái niệm này đƣợc hiểu tƣơng đối đồng nhất. Tri thức địa phƣơng (local knowledge) hay “kiến thức bản địa” (Indigenous knowledge) đều đƣợc hiểu là hệ thống tri thức và thực nghiệm đƣợc phát triển qua nhiều thế hệ trong một lĩnh vực cụ thể tới một nền văn hóa chuyên biệt của bất kỳ một cộng đồng nào đó, đƣợc tồn tại bên trong và đƣợc phát triển ở những hoàn cảnh cụ thể của các tộc ngƣời. Tất cả thành viên ở mọi lứa tuổi và giới khác nhau trong cộng đồng đã tạo nên sự khác biệt và chất lƣợng của tri thức địa phƣơng. Nó biểu hiện sự tích lũy của các thế hệ giàu kinh nghiệm qua quan sát tinh tế và các thử nghiệm công phu đƣợc thể hiện qua các câu chuyện, bài hát, luật tục, tín ngƣỡng, nghi lễ, văn học dân gian, … liên quan đến canh tác nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trƣờng.

Cộng đồng địa phương Khái niệm về cộng đồng đƣợc sử dụng nhiều trong các nghiên cứu, tuy nhiên chƣa có sự thống nhất chung về mặt từ ngữ. Theo Darcy Davis Case (1990), cộng đồng địa phƣơng là nhóm ngƣời sống trên cùng một khu vực, và thƣờng cùng nhau chia sẻ các mục tiêu chung, các luật lệ xã hội chung và/hoặc có quan hệ gia đình với nhau [26, trang 50]. Một khái niệm khác đƣợc Phạm Xuân Phƣơng (2001) sử dụng trong báo cáo tại Hội thảo quốc gia “Khuôn khổ chính sách hỗ trợ quản lý rừng cộng đồng ở Việt Nam” đƣợc tổ chức tại Hà Nội từ ngày 14-15/11/2001 là “cộng đồng bao gồm toàn thể những ngƣời sống thành một xã hội có những điểm tƣơng đồng về mặt văn hoá truyền 4 thống, có mối quan hệ sản xuất và đời sống gắn bó với nhau và thƣờng có ranh giới không gian trong một làng bản” [14]. Trong bài phát biểu của Giáo sƣ Lê Quý An (1997) về “Quan hệ đồng tác trên cơ sở cộng đồng trong vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên quốc gia” tại hội thảo “Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam”, cộng đồng đƣợc định nghĩa là nhóm ngƣời sống tại cùng một địa phƣơng hoặc dƣới sự quản lý của cùng một chính quyền địa phƣơng [22].

Nhƣ vậy, có thể nói cộng đồng là dân cƣ thôn, làng, bản , cộng đồng các dòng họ, các nhóm ngƣời có những đặc điểm và lợi ích chung gắn bó với nhau trong cùng một không gian. Trong phạm vi nghiên cứu này, cộng đồng đƣợc hiểu theo nghĩa CĐĐP và là thôn xóm. Đa dạng sinh học Theo Công ƣớc Đa dạng sinh học của Liên hợp quốc “Đa dạng sinh học là sự phong phú của mọi cơ thể sống có từ tất cả các nguồn trong các hệ sinh thái trên cạn, dƣới nƣớc, ở biển và mọi phức hệ sinh thái mà chúng là bộ phận cấu thành. Đa dạng sinh học bao gồm sự đa dạng trong loài (đa dạng di truyền hay còn gọi là đa dạng nguồn gen), giữa các loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) [18].

Trong đó, các khái niệm liên quan đƣợc mô tả nhƣ sau: - Đa dạng di truyền là sự phong phú những biến dị trong cấu trúc di truyền của các cá thể trong loài hoặc giữa các loài; những biến dị di truyền bên trong hoặc giữa các quần thể. - Đa dạng loài là sự phong phú về các loài đƣợc tìm thấy trong các hệ sinh thái tại một vùng lãnh thổ xác định thông qua việc điều tra, kiểm kê. - Đa dạng hệ sinh thái là sự phong phú về các kiểu hệ sinh thái khác nhau ở cạn cũng nhƣ ở nƣớc tại một vùng lãnh thổ nào đó. Thực tế hiện tại, nhiều nƣớc đã sử dụng định nghĩa về ĐDSH theo Công ƣớc.

Các nƣớc ký và phê chuẩn Công ƣớc đã sử dụng định nghĩa về ĐDSH theo Công ƣớc trong các văn bản pháp luật. Một số nƣớc chƣa phê chuẩn Công ƣớc nhƣ Mỹ cũng sử dụng định nghĩa về ĐDSH theo Công ƣớc. Theo tài liệu “Tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích – những bài học từ thực tiễn Việt Nam”, đa dạng sinh học là thuật ngữ chỉ sự phong phú của tất cả các sinh vật sống trong tự nhiên trên Trái đất, từ các sinh vật nhỏ bé mà mắt thƣờng không nhìn 5 thấy gọi là vi sinh vật, đến thực vật, nấm, động vật và các hệ sinh thái mà chúng có mặt. ĐDSH bao gồm đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái.

Ở Việt Nam, đa dạng sinh học đƣợc định nghĩa theo Luật Đa dạng sinh học (2008) là sự phong phú về gen, loài, sinh vật và hệ sinh thái trong tự nhiên. Cho đến nay, thuật ngữ ĐDSH đƣợc định nghĩa theo nhiều cách diễn tả khác nhau nhƣng tất cả đều đƣợc hiểu bao gồm 3 thành phần chính, đó là nguồn gen, loài và hệ sinh thái. Nhƣ vậy, có thể thấy ĐDSH là tổng hợp các dạng sống và các biểu hiện về cấu trúc, thành phần và các hoạt động của sinh vật trên Trái đất. ĐDSH còn đƣợc coi là sản phẩm của sự tƣơng tác giữa hai hệ thống tự nhiên và xã hội.

Nguồn tài nguyên sinh học và nguồn gen Tài nguyên sinh học (biological resource) bao gồm các nguồn gen, các sinh vật (thực vật, động vật, vi sinh vật) hoặc các bộ phận của chúng, các quần thể hoặc bất kỳ một bộ phận sống nào của hệ sinh thái có ứng dụng hay giá trị thực tế hoặc tiềm năng đối với con ngƣời, ví dụ hạt giống cây, một kiểu gen, một con cá hay một loài nấm. Nguồn tài nguyên sinh học là những thực thể thực sự và là một thành tố của hệ sinh thái. Nguồn gen là nguồn vật liệu di truyền mang giá trị sử dụng thực tế hay tiềm năng. Vật liệu di truyền là thuật ngữ chỉ bất kỳ bộ phận nào của động vật, thực vật, vi sinh vật hay các thực thể khác có chứa các đơn vị chức năng di truyền (ví dụ nhƣ hạt giống, cành chiết, tinh trùng hay các cá thể sinh vật).

Thuật ngữ này không đề cập đến giá trị thực tế hay tiềm năng. Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước về cây thuốc và bảo tồn đa dạng sinh học dựa vào cộng đồng Lâm sản ngoài gỗ là nguồn tài nguyên rất gần gũi với ngƣời dân sống trong rừng và gần rừng, ngày nay lâm sản ngoài gỗ cũng là đối tƣợng để đáp ứng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng nói chung. Trong đó nhóm cây thuốc đã thể hiện rõ nét nhất điều này, từ xa xƣa con ngƣời đã biết sử dụng các loại rau, lá để nấu nƣớc uống để chữa bệnh. Qua nhiều thế kỷ con ngƣời đã phát triển đƣợc y học cổ truyền từ những cây thuốc và làm cho những loài cây đó trở lên có ý nghĩa.

Có thể thấy y học cổ truyền 6 đƣợc phát triển khắp các châu lục và mỗi một châu lục đều có những đặc trƣng về y học cổ truyền riêng. Tình hình nghiên cứu cây thuốc trên thế giới Châu Úc đƣợc mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xƣa nhất trên thế giới. Ngƣời ta cho rằng, các thổ dân Châu Úc đã định cƣ ở đây từ hơn 60.000 năm về trƣớc và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài thuốc bản xứ. Nhiều loài cây nhƣ cây bạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất chỉ có ở Châu Úc, vốn đƣợc sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh.

Tuy nhiên phần lớn kiến thức về cây thuốc của thổ dân đã bị mất đi khi ngƣời Châu Âu đến định cƣ. Ngày nay, đa phần cây thuốc ở Châu Úc bắt nguồn từ phƣơng Tây, Ấn Độ, Trung Quốc và các nƣớc vùng ven Thái Bình Dƣơng. Cây thuốc ở Châu Âu rất da dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển. Ngƣời đầu tiên phải kể đến là Galen (131 – 200 sau công nguyên (SCN)), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hƣởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc bào chế từ thảo mộc.

Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và đƣợc áp dụng trong nghành y Châu Âu hơn 1500 năm. Ở thế kỉ I SCN, một thầy thuốc ở Hi Lạp tên là Dioscorides đã viết một cuốn sách có tên “De material Medica” nội dung viết về 600 loại thảo mộc, gây ảnh hƣởng mạnh mẽ đến y học phƣơng tây và là sách tham khảo chính đƣợc dùng ở Châu Âu cho đến thể kỷ XVII. Cuốn sách này còn đƣợc dịch ra nhiều ngôn ngữ nhƣ: Tiếng Anh cổ, tiếng Ba Tƣ và tiếng Hebrew. Vào thời trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây – “Dấu hiệu của thần thánh” và công dụng của chúng.

Chẳng hạn, những chiếc lá lốm đốm của cây cỏ phổi (pulmonaria officinalis) giống nhƣ các mô phổi, chữa rất hiệu quả các bệnh phổi. Ở Châu Phi, sự đa dạng của nghành thảo dƣợc cổ truyền lớn hơn bất kỳ châu lục nào khác. Việc sử dụng liệu pháp điều trị bằng cây thuốc ở Châu Phi đã có từ thời xa xƣa. Những bản viết tay đã có từ thời Ai Cập cổ đại (1950 – trƣớc công nguyên (TCN)) đã liệt kê hàng chục loài cây thuốc và công dụng của chúng.

Trong bản giấy cói của dân tộc Ebers (khoảng 1500 TCN) ghi lại hơn 870 toa thuốc và công thức, 700 loài dƣợc thảo và các chứng bệnh, từ phổi cho đến các vết thƣơng do cá sấu cắn. Việc buôn bán dƣợc thảo giữa các vùng Trung Đông, Ấn Độ và Đông Bắc châu Phi đã có ít nhất từ 3000 năm. 7 Chữa bệnh bằng cây cỏ đang dần trở thành xu hƣớng của thế giới. Trong khoảng 30 năm gần đây, viện Ung thƣ Hoa Kỳ (CNI) đã điều tra nghiên cứu sàng lọc hơn 40.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ