Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC VÀ VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN ĐỐI VỚI NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP NGOÀI NHÀ NƯỚC 1. Khái niệm, đặc điểm và các quy định hiện hành về doanh nghiệp ngoài nhà nước 1. Khái niệm doanh nghiệp ngoài nhà nước Trước hết, về thuật ngữ “doanh nghiệp” được hiểu ngắn gọn và đơn giản theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê, 2004) như sau: “Doanh nghiệp là làm công việc kinh doanh” Trên khía cạnh pháp luật, DN được khái niệm và cụ thể hóa theo LDN 2020, tại khoản 10, Điều 4 của luật này thì: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Như vậy, LDN 2020 đã đưa ra khái niệm trên để nhận diện và phân biệt về DN, theo quy định như vậy cũng được sử dụng để phân biệt DN với các tổ chức khác cũng với mục đích kinh doanh, thương mại như tổ chức đơn vị sự nghiệp, lực lượng vũ trang, tổ chức chính trị xã hội,.
Từ khái niệm trên, doanh nghiệp có những đặc điểm chính như sau: (i) DN phải có tên, tên của DN phải có dấu hiệu để xác định tư cách pháp nhân của DN. Đây cũng là đặc điểm để phân biệt các loại hình DN có trong xã hội, tên của doanh nghiệp cũng phục vụ cho hoạt động quản lý nhà nước với DN. Ngoài ra, tên của DN phải được gắn tại trụ sở của DN, chi nhánh, văn phòng đại diện của DN; Tên DN phải được in, viết trên các giấy tờ hồ sơ trong hoạt động giao dịch mà DN thực hiện. (Điều 27 – 41 LDN 2020) (ii) DN phải có tài sản, hay còn được gọi là tài sản DN.
Mục đích quy định này là trong hoạt động kinh doanh của DN thì tài sản của DN là điều kiện của của DN trong quá trình hoạt động. (iii) DN phải có trụ sở giao dịch (trụ sở chính, giao dịch ổn định), trụ sở 7 chính được đặt tại Việt Nam (xác định địa giới hành chính) và cũng là địa chỉ liên lạc của DN. (Điều 42, LDN 2020) (iv), DN phải thực hiện việc đăng ký theo quy định của LDN 2020; (v), DN được thành lập xác định mục tiêu là hoạt động sản xuất, kinh doanh. Cũng trong LDN 2020, các quy định được cụ thể hóa các khái niệm khác về DN nhà nước, DN Việt Nam; DN có vốn đầu từ nước ngoài (theo TT 06/2019/TT-NHNN) Đối với DN ngoài nhà nước thì trong LDN 2020 chưa có khái niệm về loại hình DN này, tuy nhiên, theo Tổng cục Thống kê thì DN ngoài nhà nước được hiểu như sau: “Doanh nghiệp ngoài Nhà nước gồm các doanh nghiệp vốn trong nước, thuộc sở hữu tư nhân của một người hoặc nhóm người có sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống”.
Như vậy, theo khái niệm trên thì DN ngoài nhà nước được hiểu là mọi DN có vốn trong nước, chủ sở hữu là tư nhân, hoặc nhóm người có sở hữu nhà nước theo tỷ lệ về vốn được hạn chế là nhỏ hơn 50%. Từ những quy định của LDN 2020, về DN ngoài nhà nước được hiểu như sau, khái niệm này của tác giả đưa ra chỉ nhằm mục đích cho nghiên cứu của luận văn này, theo đó: DN ngoài nhà nước là DN hợp pháp theo quy định của LDN, trong đó, DN có tài sản, hạch toán kinh tế độc lập, có vốn trong nước thuộc sở hữu tư nhân một người hoặc nhóm người hoặc thuộc sở hữu Nhà nước nhưng chiếm từ 50% vốn điều lệ trở xuống. Đặc điểm doanh nghiệp ngoài nhà nước Doanh nghiệp ngoài nhà nước (tiếng Anh: Non-state enterprises). Theo những quy định về điều kiện là một DN theo LDN 2020 thì cơ bản DN ngoài nhà nước bản chất là một DN hoạt động theo pháp luật về DN của Việt Nam, cụ thể là LDN 2020.
Chính vì vậy, những đặc điểm của DN ngoài nhà nước có những đặc điểm sau: 8 Thứ nhất, doanh nghiệp ngoài nhà nước có các đặc điểm chung giống như các doanh nghiệp thông thường khác, bao gồm các đặc điểm về hình thức tổ chức, cơ cấu tổ chức, tư cách pháp lý. Như vậy, DN ngoài nhà nước được thành lập và hoạt động dưới các hình thức theo quy định của LDN 2020 của nước ta, ngoài ra, nhà đầu tư là chủ của DN ngoài nhà nước có thể lựa chọn mô hình, hình thức kinh doanh được quy định tại LDN 2020 như: DN tư nhân, DN là Công ty Trách nhiệm hữu hạn, DN là Công ty Cổ phần, DN là công ty hợp danh,… Thứ hai, bị hạn chế về khả năng tài chính. Nhìn chung, các doanh nghiệp ngoài nhà nước đều có khả năng tài chính khá hạn hẹp, các nguồn vốn đều đến từ các nguồn vay từ người thân, vay của khu vực tín dụng không chính thức hoặc một phần từ hoạt động cho vay của ngân hàng. Việc bị hạn chế về khả năng tài chính sẽ là nhân tố ảnh hưởng tới uy tín của DN, khả năng tự chủ, chủ động trong hoạt động kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh cũng như năng lực sản xuất của DN; việc tối đa hóa các chi phí trong hoạt động tài chính cũng chịu ảnh hưởng.
Có thể nói rằng, nguồn vốn là một vấn đề khó khăn nhất đối với các doanh nghiệp ngoài nhà nước; Thứ ba, công nghệ và kỹ thuật sản xuất thiếu đồng bộ, còn lạc hậu. Hiện nay, các doanh nghiệp ngoài nhà nước được trang bị công nghệ hiện đại không nhiều, còn sử dụng các công nghệ sản xuất lạc hậu hay thiếu đồng bộ. Chính vì vậy, DN cũng sẽ bị giới hạn bởi chất lượng sản phẩm được DN sản xuất ra, tốn kém nguồn nguyên vật liệu sản xuất,… Thứ tư, do quy mô hoạt động nhỏ với khả năng tự quyết nên người quản lý có thể linh hoạt trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đối với các DN ngoài nhà nước so với DN nhà nước thì sự thích ứng trong môi trường kinh doanh là nhanh, “nhạy bén”.
Đối với DN ngoài nhà nước, khi tham gia vào hoạt động sản xuất – kinh doanh thì việc lựa chọn môi trường kinh doanh, sản phẩm kinh doanh, chiến lược kinh doanh được các DN,…. được các DN này lựa chọn và có quyết định nhanh, hiệu quả cũng mang lại đối với các DN này. Chính vì vậy, đây 9 được xem là thế mạnh của các DN ngoài nhà nước trong việc tham gia thị trường với DN nhà nước trong cùng một môi trường kinh tế. Thứ năm, về mặt bản chất thì DN ngoài nhà nước là DN của tư nhân, tư nhân là chủ sở hữu, quản lý và duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh.
Nguồn vốn không được dồi dào như các DN nhà nước, chính vì vậy DN ngoài nhà nước đa số là những DN có quy mô ở mức vừa phải theo điều kiện kinh tế và đặc thù ngành nghề sản xuất kinh doanh. Đối với DN ngoài nhà nước, với các mô hình đã được xác định theo LDN 2020 như ở trên (Công ty THHH, tư nhân, Công ty CP,…) và việc tự chịu trách nhiệm pháp luật, tài sản của DN đều do một người hoặc nhiều người đứng ra chịu trách nhiệm. Ngoài ra, do hạn chế về nguồn vốn mà loại hình DN ngoài nhà nước cũng là hình thức kinh tế hộ gia đình hoạt động sản xuất kinh doanh vẫn còn thủ công, số người tham gia trong hộ gia đình như trong lĩnh vực nông nghiệp, tiểu thủ công, hộ kinh doanh nhỏ,…(56) Mặc dù, DN ngoài nhà nước với nguồn vốn hạn chế, năng lực sản xuất của từng DN còn chưa cao. Tuy nhiên, với số lượng các DN ngoài nhà nước đông đảo, chiếm tỷ lệ khoảng 95% của tổng các DN của nước ta, chính vì vậy các DN này đã tạo ra một nguồn ngân sách dồi dào cho quốc gia, tạo ra hàng chục triệu việc làm cho NLĐ.
Chính vì vậy, DN ngoài nhà nước chính là trụ cột của nền kinh tế quốc gia, đây là những nhân tố làm phát triển nền kinh tế, tạo việc làm mới cho NLĐ và góp phần thúc đẩy nguồn thu cho ngân sách nhà nước ngày càng dồi dào. Quy định của pháp luật về doanh nghiệp ngoài nhà nước Theo quy định của pháp luật hiện hành về DN, cụ thể là LDN 2020 thì DN ngoài nhà nước hoạt động theo quy định của pháp luật về DN, mô hình, hình thức sản xuất kinh doanh theo LDN 2020 và các luật khác có liên quan, cụ thể như về lao động việc làm, bảo hiểm, ngành nghề kinh doanh,… Căn cứ theo LDN 2020 thì, DN ngoài nhà nước, pháp luật quy định về hình thức của các DN ở các hình thức bao gồm: 10 Thứ nhất, Công ty TNHH Đối với mô hình Công ty THHH, LDN 2020 quy định là mô hình DN bao gồm công ty TNHH 1 thành viên và công ty THNN 2 thành viên trở lên, có đầy đủ từ người đại diện theo quy định pháp luật, cho tới vốn điều lệ, vốn góp, thành viên từ 1 đến dưới 50 thành viên; không được quyền phát hành cổ phiếu. Thứ hai, Công ty CP Theo LDN 2020, tại Điều 111, 112 thì Công ty CP là DN trong đó có vốn điều lệ được chia thành CP, tối thiểu phải có từ 03 cổ đông, các cổ đông chịu trách nhiệm đối với những khoản nợ của Công ty CP trong phạm vi số vốn đã góp vào đó, cổ đông có quyền, lợi ích khi tham góp vốn,… Về mô hình tổ chức, Công ty CP phải có hội đồng quản trị (Điều 137 LDN 2020) Thứ ba, Công ty hợp danh Đối với loại hình này, LDN 2020 có quy định như sau: Công ty hợp danh là DN, trong đó, công ty hợp danh phải có ít nhất 02 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung. Mặt khác luật này cũng quy định, trong công ty hợp danh, ngoài các thành viên hợp danh thì có thể có thêm thành viên góp vốn.
Đối với thành viên hợp danh có thể là cá nhân hoặc tập thể và đều phải chịu về khoản nợ, tài sản của công ty hợp danh. Thứ tư, Doanh nghiệp tư nhân Đối với loại hình DN này, LDN 2020 có quy định như sau: DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN, DN tư nhân cũng không được phát hành chứng khoán. Về chủ sở hữu, mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập 01 DN.