Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BÁO CHÍ TRONG VIỆC NÂNG CAO NHẬN THỨC CHÍNH TRỊ CỦA CÔNG NHÂN VIỆT NAM TRƯỚC THÔNG TIN XẤU ĐỘC TRÊN MẠNG XÃ HỘI 1. Một số khái niệm cơ bản 1.1 Khái niệm báo chí và vai trò của báo chí Theo quan niệm truyền thống, báo chí là phương tiện truyền thông đại chúng truyền tải thông tin thời sự có tính định kỳ đến với đông đảo quần chúng. Theo sách Từ điển tiếng Việt ( Hoàng Phê chủ biên, 2008, Trung tâm Từ điển ngôn ngữ), báo chí là “báo và tạp chí xuất bản định kỳ; xuất bản phẩm định kỳ” [35, Tr. Tuy nhiên, quan niệm về báo chí có nhiều quan điểm khác nhau: Tác giả Nguyễn Văn Dững trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” (NXB Lao Động, năm 2012) định nghĩa: “Báo chí là hiện tượng xã hội phổ biến phát triển theo từng ngày và có tác động chi phối đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Nhưng đến nay, chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm này, thậm chí trong các sách, giáo trình chính thức bằng tiếng Việt, kể cả tiếng nước ngoài cũng chưa thấy đưa ra khái niệm báo chí là gì, báo chí và thông tin báo chí có những đặc điểm cơ bản nào để có thể nhận diện rõ hơn về bản chất và cơ chế hoạt động” [16, Tr. Còn theo Luật Báo chí năm 2016 của Việt Nam, báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử [28]. Trong sự nghiệp cách mạng Việt Nam, báo chí luôn được xem là một bộ phận của cách mạng, vũ khí sắc bén của Đảng trong công cuộc giành lại độc lập cho dân tộc, xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân. 13 Bước vào thời kỳ đổi mới, đất nước tiến hành thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, với tư cách là công cụ đắc lực và hữu hiệu của Đảng và nhà nước, diễn đàn của nhân dân, báo chí tiếp tục thể hiện vai trò đặc biệt quan trọng ở những mặt dưới đây: + Tuyên truyền, phản ánh kịp thời quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước; phổ biến tri thức và kiến thức pháp luật cho mọi tầng lớp nhân dân.
+ Định hướng dư luận xã hội, giáo dục nâng cao nhận thức, tư tưởng chính trị cho mọi tầng lớp nhân dân thông qua việc tuyên truyền Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; giáo dục lòng yêu nước, lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; tuyên truyền, bảo vệ và gìn giữ những giá trị truyền thống văn hoá tốt đẹp của dân tộc. + Phát hiện, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu và những biểu hiện tiêu cực. + Cổ vũ các phong trào thi đua yêu nước; phát hiện, biểu dương, nêu gương các tập thể, cá nhân và điển hình tiên tiến trong lao động, sản xuất, gương người tốt, việc tốt ở tất cả các lĩnh vực trong đời sống xã hội. Bởi theo quan điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “báo chí không chỉ lãnh đạo dư luận mà cần phải lãnh đạo, tổ chức các phong trào cách mạng của quần chúng.
Người nói, báo chí phải khuyến khích những người tốt, việc tốt và thẳng thắn phê bình điều xấu… Phương pháp lấy gương tốt trong nhân dân và cán bộ, đảng viên để giáo dục lẫn nhau, lấy quần chúng giáo dục quần chúng là rất sinh động và có sức thuyết phục lớn. Đó cũng là cách thức thực hành đường lối quần chúng trong công tác giáo dục” [44, Tr. + Trong bối cảnh thế giới bước vào cuộc cách mạng 4.0, trước sự chống phá của các thế lực thù địch và phần tử phản động thông qua việc tận dụng triệt để ưu thế của công nghệ thông tin và mạng xã hội, báo chí còn đóng vai trò 14 quan trọng là lực lượng tiên phong trong đấu tranh, phản bác các luận điệu sai trái, xuyên tạc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng như tinh thần của Nghị quyết 35/NQ-TW của Bộ Chính trị khoá XII.2 Khái niệm công nhân Công nhân (trong tiếng Anh là Worker) là người lao động làm việc chủ yếu bằng chân tay, đảm nhận công việc khai thác, sản xuất, gia công, lắp ráp sản phẩm, vận hàng máy… trong các nhà máy, doanh nghiệp sản xuất [50]. Tùy theo lĩnh vực làm việc mà tên gọi công nhân cũng được gắn liền với tên ngành nghề như: công nhân khai thác than, công nhân may, công nhân da giày, công nhân lắp ráp linh kiện điện tử… Công nhân còn được hiểu là tầng lớp lao động gồm những người có ít sở hữu hoặc không có tài sản, phải làm công việc chân tay để có tiền.Ăngghen sử dụng thuật ngữ “giai cấp công nhân” tương đồng với thuật ngữ “giai cấp vô sản”, “giai cấp công nhân hiện đại”, “giai cấp vô sản thành thị” hay “vô sản đại công nghiệp”.
“Đó là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản”. Đó là những người lao động trong các nhà máy, bị bóc lột, không có quyền sở hữu về tư liệu sản xuất. Tuy có nhiều thuật ngữ tương đồng nhưng nhìn chung trong quan điểm của C.Ăngghen, giai cấp công nhân có hai thuộc tính: “Về phương thức lao động, phương thức sản xuất, giai cấp công nhân là những người lao động trực tiếp hay gián tiếp vận hành các công cụ sản xuất có tính chất công nghiệp ngày càng hiện đại và xã hội hóa cao; Về vị trí trong quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa, công nhân là những người lao động không có tư liệu sản xuất, phải bán sức lao động cho nhà tư bản và bị nhà tư bản bóc lột giá trị thặng dư” [11, Tr. Lênin, “công nhân là những người lao động công nghiệp, làm việc trong nên đại công nghiệp”, và giải thích “được coi là công nhân, người 15 nào trước đây đã là công nhân làm thuê bình thường trong nền đại công nghiệp ít ra là 10 năm và hiện nay đang làm việc trong đại công nghiệp từ 2 đến 3 năm” [ 46, Tr.
Sở dĩ Lênin nhận định về công nhân như vậy là vì công nhân có điều kiện sinh sống mang đầy đủ tâm lý vô sản vì họ phải làm việc nhiều năm trong trong công xưởng, chịu tác động bởi những điều kiện trong sinh hoạt kinh tế, xã hội trong môi trường đó. Trên nền tảng của Chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh đã xây dựng quan niệm về giai cấp nói chung và giai cấp công nhân Việt Nam nói riêng: “công nhân phải bán sức lao động mới có ăn. Ngoài sức lao động, họ không có máy móc và nguyên liệu gì cả. Cho nên công nhân là giai cấp vô sản.
Công nhân sản xuất các thứ của cải, song của cải ấy đều thành của cải của nhà tư bản” [29, Tr. Còn trong xã hội Việt Nam ngày nay, theo Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 của Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khoá X về Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước xác định: “Giai cấp công nhân Việt Nam là một lực lượng xã hội to lớn, đang phát triển, bao gồm những người lao động chân tay và trí óc, làm công hưởng lương trong các loại hình sản xuất kinh doanh và dịch vụ công nghiệp, hoặc sản xuất kinh doanh và dịch vụ có tính chất công nghiệp” [3]. Văn Tạo: “Giai cấp công nhân Việt Nam hiện nay là một tập đoàn những người lao động có thu nhập chủ yếu bằng lao động làm công ăn lương, sống và làm việc gắn với sản xuất kinh doanh, dịch vụ công nghiệp. Do nắm được những cơ sở sản xuất vật chất then chốt và đại diện cho lực lượng sản xuất tiên tiến trong xã hội nên giai cấp công nhân Việt Nam có vai trò đi tiên phong trong tiến trình phát triển của lịch sử xã hội hiện đại Việt Nam” [36, Tr.
16 Với chế độ sở hữu đa thành phần, công nhân Việt Nam ngày nay gồm một phần lực lượng làm việc hưởng lương trong các doanh nghiệp, một phần lực lượng tham gia đóng góp cổ phần, là cổ đông của các doanh nghiệp, một phần lực lượng là người làm thuê. Dưới góc độ ý thức hệ, công nhân Việt Nam là giai cấp duy nhất có sứ mệnh lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiền phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, họ cũng là giai cấp tiên phong trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đại diện cho phương thức sản xuất tiên tiến, là giai cấp chủ đạo trong khối liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng.3 Nhận thức Theo Từ điển Lexico của Oxford Uninversity Press và Dictionary.com, “nhận thức” (coginition) là hành động, quá trình tiếp thu kiến thức, sự hiểu biết thông qua suy nghĩ, kinh nghiệm và giác quan. Bao gồm tất cả các khía cạnh của các chức năng và quá trình hình thành nên trí tuệ như: nhận thức, chú ý, suy nghĩ, trí thông minh, sự hình thành kiến thức, trí nhớ và trí nhớ làm việc, phán đoán và đánh giá, lý luận và tính toán, giải quyết vấn đề và ra quyết định, hiểu và sản xuất ngôn ngữ [52]. Theo quan điểm triết học Mác – Lênin, nhận thức được định nghĩa là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan vào trong bộ óc của con người, có tính tích cực, năng động, sáng tạo, trên cơ sở thực tiễn.
Theo phép tư duy biện chứng, hoạt động nhận thức của con người đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Con đường nhận thức được thực hiện qua các giai đoạn từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao, từ cụ thể đến trừu tượng, từ hình thức bên ngoài đến bản chất bên trong. Trong đó bao gồm: nhận thức cảm tính (hay còn là trực quan sinh động) là giai đoạn đầu tiên của quá trình nhận thức, với các hình thức: cảm giác, tri giác, biểu tượng; nhận thức lý tính (hay còn gọi là tư duy trừu tượng) là giai đoạn phản ánh gián 17 tiếp trừu tượng, khái quát sự vật, được thể hiện qua các hình thức như khái niệm, phán đoán, suy luận [23, Tr. Nhận thức cảm tính và lý tính luôn gắn chặt với nhau.
Không có nhận thức cảm tính thì không có nhận thức lý tính.