CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP TRẺ KHUYẾT TẬT TRÍ TUỆ TẠI PHÒNG LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI QUẬN BẮC TỪ LIÊM 1.1 Khái niệm về Công Tác Xã Hội Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội có thể hiểu là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội. Công tác xã hội cũng được xem như một khoa học, một nghệ thuật can thiệp đối với những vấn đề xã hội để tạo nên sự chuyển biến của xã hội [Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội năm 2014]. Tháng 7 năm 2011 hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế thống nhất về CTXH như sau : CTXH là một nghề tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội, tăng cường sự trao đổi quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của con người. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trường.
Từ hai định nghĩa trên thì CTXH tồn tại một số quan điểm sau: Thứ nhất: CTXH là một khoa học, một hoạt động chuyên môn bao gồm hệ thống kiến thức, kỹ năng nghiệp vụ và quy định chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp khi thực hành loại ngành nghề này. Thứ hai: Đối tượng tác động của CTXH là cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng đặc biệt là nhóm người yếu thế trong xã hội như: trẻ em, phụ nữ, gia đình nghèo, người già, người khuyết tật, người tâm thần…, những người trong hoàn cảnh khó khăn nên khó hòa nhập xã hội và chức năng xã hội bị suy giảm. 6 Thứ ba: Hướng trọng tâm của CTXH là tác động tới con người như một tổng thể, tác động tới con người trong môi trường xã hội của họ. CTXH tác động tới mối quan hệ tương tác qua lại giữa nhóm đối tượng và môi trường xã hội.
CTXH trợ giúp con người không chỉ qua việc can thiệp vấn đề của cá nhân, gia đình mà còn can thiệp vấn đề của cộng đồng. Thứ 4: Mục đích của CTXH là hướng tới giúp đỡ cá nhân, gia đình và cộng đồng phục hồi hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những thay đổi về vai trò, vị trí của cá nhân, gia đình, cộng đồng từ đó giúp họ hòa nhập xã hội. Một mặt CTXH giúp cá nhân tăng cường năng lực để hòa nhập xã hội, mặt khác CTXH thúc đẩy các điều kiện xã hội để cá nhân, gia đình tiếp cận được với chính sách, nguồn lực xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản. Thứ năm: Vấn đề mà cá nhân, gia đình hay cộng đồng gặp phải và cần tới sự can thiệp của CTXH là những vấn đề có thể xuất phát từ yếu tố chủ quan cá nhân như sự hạn chế về thể chất, khiếm khuyết về sức khỏe, tâm thần, thiếu việc làm, không được đào tạo chuyên môn, nghèo đói, quan hệ xã hội suy giảm.
Vấn đề của họ cũng có thể nảy sinh từ phía khách quan đó là cộng đồng, môi trường xung quanh bởi môi trường đó không cung cấp hay không tạo điều kiện cơ hội để cá nhan gia đình hay cộng đồng được tiếp cận nguồn lực nhằm giải quyết vấn đề nảy sinh trong cuộc sống. Từ những phân tích trên có thể đi đến khái niệm CTXH được sử dụng trong đề tài như sau: Công tác xã hội: CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nhà xuất bản Lao động – Xã hội năm 2014].2 Khái niệm về nhân viên công tác xã hội Nhân viên công tác xã hội ( tiếng anh là social worker) là những người hoạt động trong nhiều lĩnh vực, được đào tạo chính quy và cả bán chuyên nghiệp, được trang bị các kiến thức và kỹ năng trong CTXH để trợ giúp các đối tượng nâng cao khả năng giải quyết và đối phó với vấn đề trong cuộc sống; tạo cơ hội để các đối tượng tiếp cận được nguồn lực cần thiết; thúc đẩy sự tương tác giữa các cá nhân, giữa cá nhân với môi trường tạo ảnh hưởng tới chính sách xã 7 hội, các cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cá nhân, gia đình, nhóm và cộng đồng thông qua hoạt động nghiên cứu và hoạt động thực tiễn. Để có thể hỗ trợ giải quyết các vấn đề và nhu cầu của con người, NVCTXH cần có khả năng thực hiện các vai trò như: người mô giới (kết nối), biện hộ, giáo viên, tham vấn, điều phối, vận động, điều hành, thương thuyết, giáo dục và một số vai trò khác…. Khái niệm trẻ khuyết tật trí tuệ * Alfred Binet và Theodore Simon 2 tác giả người Pháp dựa vào trắc nghiệm trí tuệ để xác định KTTT.
Theo họ người có chỉ số trí tuệ dưới 70 là KTTT - Nhược điểm: ít hiệu quả đối với trẻ nghèo, trẻ có nguồn gốc văn hóa khác *1966 Lura Tâm lý học người Nga : tổn thương não là nguyên nhân quan trọng dẫn đến chậm phát triển. “ Trẻ KTTT là những trẻ mắc bệnh về não từ khi còn trong bào thai hoặc trong những năm tháng đầu đời, bệnh nay cản trở sự phát triển của não, gây ra sự phát triển không bình thường về tinh thần.” Hạn chế của phương pháp chẩn đoán này:không phát hiện được những khiếm khuyết trong hệ thần kinh * Theo DSM-IV (Sổ tay chẩn đoán và thống kê những rối nhiễu tâm thần IV) - Trí tuệ dưới mức trung bình - Khiếm khuyết, hạn chế về hành vi thích ứng:trong giao tiếp, tự chăm sóc, sống tại gia đình, các kỹ năng xã hội liên quan đến cá nhân, sử dụng các phương tiện trong cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, làm việc , giải trí sức khỏe, an toàn - Hiện tượng xuất hiện trước 18 tuổi Vấn đề: theo DSMI-V Người KTTT có IQ 70 – 75 có nhiều khiếm khuyết về hành vi xã hội. Ngược lại người có IQ thấp hơn 70 ít bị khiếm khuyết về hành vi thích ứng thì lại không bị coi là KTTT! *1992 theo Hiệp Hội khuyết tật Mỹ KTTT là một tình trạng đặc biệt về chức năng bắt đầu xuất hiện từ khi còn nhỏ và được biểu hiện bởi sự hạn chế về trí tuệ và khả năng thích ứng 8 IQ dưới mức trung bình Hạn chế về 2 hoặc nhiều hơn những lãnh vực kỹ năng thích ứng … Tại Việt nam những khái niệm về KTTT được sử dụng rộng rãi nhất là theo DSM- IV và AAMR năm 1992: Trí tuệ dưới mức trung bình, hạn chế về kỹ năng thích ứng và khuyết tật xuất hiện trước 18 tuổi KTTT- Chậm phát triển trí tuệ: giảm khả năng về nhận thức, hiểu biết. Giảm sút trí nhớ, chậm chạp hay khó khăn về việc học tập.
Chậm phát triển về nội tâm. Khó khăn trong việc diễn đạt xúc cảm (Nguyễn Văn Thành) 1. Lý Luận về vai trò của Nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp trẻ khuyết tật trí tuệ Khi nhân viên công tác xã hội ở những vai trò khác nhau, thì vai trò và các hoạt động của họ cũng rất khác nhau tùy theo chức năng và nhóm đối tượng họ làm việc Vai trò của Nhân viên công tác xã hội trong trợ giúp trẻ khuyết tật trí tuệ + Vai trò của CTXH là can thiệu vào cuộc sống của cá nhân, gia đình, nhóm người có cùng vấn đề, cộng đồng và các hệ thống xã hội nhằm hỗ trợ thân chủ đạt được sự thay đổi về mặt xã hội, giải quyết các vấn đề trong các mối quan hệ với con người và để nâng cao an sinh xã hội + Nhân viên CTXH có vai trò là người vận động nguồn lực trợ giúp đối tượng (cá nhân, gia đình, cộng đồng…) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề. Là những người kết nối – khai thác, giới thiệu thân chủ tiếp cận các dịch vụ, chính sách nguồn tài nguyên đang sẵn có trong cộng đồng.
NVCTXH có vai trò là người biện hộ/vận động chính sách giúp bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách mà họ là đối tượng được hưởng. +Vai trò là người giáo dục cung cấp kiến thức kỹ năng nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết. Vai trò là người tham vấn giúp cho những đối tượng có khó khăn về tâm lý, tình cảm và xã hội vượt qua được sự căng thẳng, khủng hoảng duy trì hành vi tích cực đảm bảo chất lượng cuộc sống. 9 +Nhân viên công tác xã hội có vai trò là người chăm sóc, nguời trợ giúp đối tượng như trực tiếp cung cấp dịch vụ chăm sóc đối tượng yếu thế.
Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã được xác định, nhân viên công tác xã hội giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng. Nhân viên công tác xã hội sẽ trợ giúp các đối tượng và nhóm người yếu thế, các gia đình có hoàn cảnh khó khăn giúp họ có sự thay đổi tích cực, ổn định lại mọi mặt cuộc sống và hòa nhập cộng đồng….