MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Phụ nữ nông thôn đóng vai trò quan trọng trong phát triển nông nghiệp và là một lực lƣợng đông đảo trong nguồn nhân lực của đất nƣớc nhƣng họ lại là nhóm xã hội phải chịu thiệt thòi hơn so với nam giới nông thôn và những phụ nữ sống tại đô thị. Hàng ngày, trên các phƣơng tiện thông tin đại chúng hay thậm chí ngay xung quanh chúng ta, không khó để thấy hình ảnh của những ngƣời phụ nữ nông thôn bị đối xử bất công, họ là nạn nhân của tình trạng buôn bán ngƣời, của nạn bạo lực gia đình hay nghèo đói. Không thể phủ nhận ngày nay phụ nữ nông thôn có nhiều điều kiện thuận lợi để đạt đƣợc thành công nhƣ nam giới, họ không chỉ tham gia vào sản xuất mà cả các hoạt động xã hội.
Tuy nhiên, trên thực tế họ còn gặp nhiều khó khăn và trở ngại trong phát triển cá nhân nhƣ: trình độ chuyên môn/ kỹ thuật, sức khỏe lao động, cơ hội tiếp cận quyền sở hữu ruộng đất, tài sản. Bởi vậy, cần có những quan tâm hợp lý đến BĐG và vị thế của phụ nữ nông thôn. Hiện nay xoá đói giảm nghèo phát triển ở nông thôn đặc biệt là trong xây dựng nông thôn mới, ngƣời hƣởng thụ chính là ngƣời nghèo trong đó có cả nam và nữ. Nhƣng trên thực tế, xét tới đối tƣợng chịu nhiều tác động và thiệt thòi của nghèo đói, ta sẽ thấy đó chính là phụ nữ và trẻ em, đặc biệt là phụ nữ ở vùng nông thôn.
Trong số đó có nhiều phụ nữ có khả năng và trình độ, nhƣng những cơ hội lựa chọn của họ có thể bị hạn chế bởi bổn phận đối với gia đình và xã hội, bởi quan niệm truyền thống về giới, thậm chí chính họ lại đề cao ngƣời nam giới hơn và đánh giá thấp vị thế của mình. Ngƣời dân luôn quan tâm và bức xúc về vấn đề này nên thời gian qua các hoạt động của Nhà nƣớc nhằm tăng cƣờng vị thế của ngƣời phụ nữ và giúp họ thoát nghèo nhận đƣợc sự đồng thuận và hƣởng ứng trong toàn xã hội. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xã Đồng Lƣơng là một trong 30 xã, 01 thị trấn của huyện Cẩm Khê - một huyện miền núi của Tỉnh Phú Thọ, ngành nghề chủ yếu của ngƣời dân nơi đây là sản xuất nông nhiệp, tiểu thủ công nghiệp. Năm 2006 xã triển khai Chƣơng trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo (giai đoạn 2006 – 2010) và luôn đƣợc đánh giá là đơn vị có nhiều thành tích trong công tác xóa đói giảm nghèo (XĐGN).
Tuy nhiên, trên thực tế nhận thức ngƣời dân về vấn đề BĐG, vị thế của ngƣời phụ nữ gắn với XĐGN còn nhiều hạn chế, xuất phát từ nhiều nguyên nhân nhƣ: định kiến giới, quan điểm gia trƣởng trong gia đình về việc ai làm chủ hộ, ai có quyền định đoạt, quyền tham gia công việc cộng đồng/hoạt động chính trị. Dẫn tới tình trạng nhiều hộ gia đình tái nghèo trở lại, đây là vấn đề luôn đƣợc đặt ra đối với xã Đồng Lƣơng nói riêng và huyện Cẩm Khê nói chung trong nhiều năm qua. Tại xã Đồng Lƣơng công tác xoá đói giảm nghèo đƣợc đặc biệt quan tâm, tuy nhiên tỷ lệ nghèo vẫn rất cao, cụ thể trong năm 2013 tỉ lệ nghèo tại xã Đồng Lƣơng là 21,8%( tƣơng đƣơng 258 hộ). Công tác giảm nghèo tại xã không bền vững, chỉ mang tính bề mặt.
Tỉ lệ tái nghèo tại xã năm 2013 là 0,31 %. Tại xã đã có cán sự phụ trách về văn hóa xã hội và chuyên trách về công tác xã hội nhƣng chƣa phát huy đƣợc khả năng của mình. Nâng cao nhận thức, phát huy tiềm năng của chính bản thân ngƣời nghèo là cách giúp giảm nghèo bền vững nhất trong đó có cách tiếp cận của CTXH. Tuy nhiên ngƣời dân ít hiểu biết về công tác xã hội và khả năng của nó trong việc giúp phụ nữ nghèo tự tin, tự quyết hơn trong cuộc sống của mình.
Thông qua thực hành công tác xã hội nhóm nhân viên CTXH sẽ tạo điều kiện cho họ đƣợc hoạt động, thảo luận cùng nhau tìm ra những nguyên nhân, hiệu quả của tình trạng nghèo đói của mình nhìn nhận đƣợc việc chính bản thân ngƣời phụ nữ có khả năng tự quyết và tìm ra giải pháp có thể giúp 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com gia đình thoát nghèo và giúp đỡ ngƣời khác, đồng thời nhân viên công tác xã hội cũng giúp họ kết nối nguồn lực từ địa phƣơng và các tổ chức khác. Trên cơ sở đó học viên quyết định lựa chọn đề tài: “Vai trò của công tác xã hội trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn (Thông qua thực hành công tác xã hội nhóm tại xã Đồng Lương-huyện Cẩm Khê- tỉnh Phú Thọ)” làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Với hy vọng thông qua các hoạt động cụ thể vị thế của phụ nữ nghèo sẽ đƣợc nâng lên trong gia đình và cộng đồng. Từ đó, phụ nữ nghèo có thể tự vƣơn lên trong cuộc sống, nâng cao chất lƣợng sống của mình, góp phần vào sự phát triển kinh tế xã hội địa phƣơng.
Do điều kiện đề tài, tôi chỉ tập chung vào vị thế trong gia đình của phụ nữ nghèo thông qua chính sách tín dụng. Tổng quan nghiên cứu: 2. Tổng quan: “Vấn đề phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001 – 2010” (2002), của Vụ Tổng hợp – Pháp chế (Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội) phối hợp với Nhà xuất bản Lao động – Xã hội biên soạn, nhằm giúp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia và cán bộ làm công tác xã hội trong lĩnh vực bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em, hệ thống hóa chủ trƣơng, đƣờng lối của Đảng, các giải pháp của Nhà nƣớc và chƣơng trình hành động quốc gia trong lĩnh vực này. Cuốn sách cũng cung cấp cho chúng ta đƣờng hƣớng chính trong việc thúc đẩy quyền của phụ nữ và trẻ em thời kỳ 2001 – 2010.
“Gia đình học” (2007), Nxb. Lý luận Chính trị của GS.TS Đặng Cảnh Khanh và GS.TS Lê Thị Quý, trình bày một cách hệ thống những vấn đề lý luận và thực tiễn về gia đình, phụ nữ, bình đẳng nam nữ. Cuốn sách đã nêu ra nhiều thực trạng bất bình đẳng giới trong gia đình, nêu lên các mối quan hệ gia đình từ truyền thống đến hiện đại, các điều tra xã hội học trong cuốn sách 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã phân tích một số vấn đề về nghèo đói ảnh hƣởng đến gia đình và các thành viên gia đình, chất lƣợng sống của gia đình và vị thế của phụ nữ nói chung và phụ nữ nghèo nói riêng. Từ đó tác giả đƣa ra biện pháp nhằm đạt tới sự bình đẳng giới trong gia đình và nâng cao vai trò của gia đình trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
“Xã hội học giới”(2010), NXB Giáo dục Việt Nam của GS.TS Lê Thị Quý, tác phẩm này đã cung cấp những kiến thức cơ bản về giới theo hệ thống để nâng cao kiến thức cho ngƣời đọc về giới, phụ nữ và mối quan hệ của họ với nam giới trong lịch sử và hiện đại.TS Phan Thanh Khôi, PGS.TS Đỗ Thị Thạch (chủ biên)(2007): “Những vấn đề giới: từ lịch sử đến hiện đại” NXB Lý luận chính trị Hà Nội, đề tài nghiên cứu này đi sâu phân tích các vấn đề về giới của C.Mác, Ăngnghen, LêNin và Hồ Chí Minh, làm rõ địa vị của ngƣời phụ nữ trong gia đình, đặc biệt là phân tích quan điểm giới, bình đẳng giới trong đƣờng lối của Đảng, nhà nƣớc. “Bình đẳng giới ở Việt Nam” (2008), Nxb. Khoa học Xã hội, của Trần Thị Vân Anh – Nguyễn Hữu Minh, xác định tình trạng bình đẳng giới, góp phần xây dựng hệ thống dữ liệu về vấn đề giới và bình đẳng giới, qua đó đáp ứng nhu cầu phân tích, đánh giá về bình đẳng Luận án tiến sĩ kinh tế “ Vận dụng lý thuyết giới trong xóa đói giảm nghèo ở một số tỉnh miền Trung” của Th.S Nguyễn Thị Thuận. Luận án đề cập tới một số lý luận cơ bản về vận dụng lý thuyết giới trong XĐGN, phân tích thực trạng giới và XĐGN ở một số tỉnh miền Trung trong giai đoạn từ năm 1995 – 2002 thông qua mối quan hệ giới với nhiều yếu tố nhƣ: chính trị, giáo dục, việc làm, tín dụng…, và có đề xuất một số giải pháp chủ yếu vận dụng lý thuyết giới trong XĐGN ở một số tỉnh miền Trung.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tại trung tâm Nghiên cứu gia đình và Phụ nữ (1998-2000) có: “ Điều tra cơ bản về gia đình Việt Nam và vai trò của người phụ nữ trong gia đình thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa”. Tác giả đã nghiên cứu chỉ ra các biến đổi các mối quan hệ cơ bản trong gia đình nhƣ mối quan hệ giữa cha mẹ, con cái, vợ chồng… Ví dụ: trƣớc đây ngƣời chồng là ngƣời kiếm tiền và cũng là ngƣời đƣa ra các quyết định lớn trong gia đình thì nay phụ nữ có quyền bàn luận, quyết định công việc lớn, ngƣời đàn ông tham gia giúp đỡ công việc nhà cho phụ nữ. Những thay đổi đó chứng tỏ BĐG cũng đã có xu hƣớng thay đổi và vị thế của phụ nữ đã đƣợc nâng lên. Nhìn chung, các nghiên cứu trên là phản ánh cách tiếp cận xã hội học.
Hiện nay có rất ít nghiên cứu về vai trò của công tác xã hội trong việc nâng cao vị thế của phụ nữ nghèo nông thôn ở Việt Nam. Vì vậy, học viên chọn đề tài này để làm luận văn tốt nghiệp sẽ mang một ý nghĩa quan trọng khi áp dụng công tác xã hội để giảm tỉ lệ tái nghèo, nâng cao vị thế của phụ nữ. Lƣợc thảo chính sách về vấn đề BĐG và vị thế của phụ nữ trong XĐGN Đảng và Nhà nƣớc ta trong nhiều năm qua đẩy mạnh xây dựng và phê duyệt nhiều chiến lƣợc, chính sách, chƣơng trình, kế hoạch liên quan đến vấn đề BĐG, vị thế của phụ nữ trong XĐGN nhƣ: Chiến lược về giới trong ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (3/2003), Chiến lược quốc gia 10 năm vì sự tiến bộ của phụ nữ, Kế hoạch hành động 5 năm vì sự tiến bộ của phụ nữ, Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội Việt Nam 2001 – 2010 được Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX thông qua nêu rõ: “Thiết thực chăm lo vì sự bình đẳng về giới, sự tiến bộ của phụ nữ”.