Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ PHÁP LY VE CONG CHUC TU PHAP - HO TICH 1. Công chức, công chức cấp xã va công chức tư pháp - hộ tịch cấp xã 1. Khát niệm công chức “Công chức” là thuật ngữ có lịch sử khá lâu dài, đội ngũ công chức manh nha hình thành từ thời kỳ phong kiến tại Trung Quốc, nó bắt đầu bằng các học thuyết về tô chức Nhà nước và Nho giáo và được áp dụng chặt chẽ hơn, nâng lên thành thiết chế dưới thời của Hán Đề Vũ thuộc triều Hán vào khoảng thế kỷ thứ III Công nguyên (206- 220 CN) thời này với học thuyết Nho giáo thịnh hành, tổ chức chính quyền của Trung Hoa phong kiến đã chia thành 06 bộ (Lục bộ) như Bộ binh, Bộ hình, Bộ lại, Bộ lễ, Bộ công, Bộ hộ và mô hình này ảnh hưởng đến nhiều nước như Việt Nam, Triều Tiên, Nhật Bản. Đến thé kỷ thứ XVI thì hệ thống công chức bat đầu hình thành và phát triển ở châu Âu phong kiến.
Tuy nhiên thuật ngữ công chức chính thức được ra đời tại nước Anh trong thé kỷ XIX (năm 1847) [21]. Ở Việt Nam, sau khi nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 về Quy chế Công chức. Theo Quy chế này, công chức là những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển dé giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoai nước, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định. Năm 1991, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 169/HDBT ngày 25/5/1991 quy định khá rõ khái niệm công chức là “công dân Việt Nam được tuyển dụng và bé nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong một công sở của nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp”.
Nghị định cũng quy định rõ những người được xác định là công chức. Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998, cùng với Nghị định số 95/1998/NĐ- CP ngày 17/11/1998 của Chính phủ về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức đã kế thừa khái niệm công chức trong Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1991 và quy định cụ thê hơn thông qua liệt kê những đối tượng là công chức nhà nước. Công chức bao gồm: những người được tuyên dụng, bổ nhiệm hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên, được phân loại theo trình độ dao tạo, ngành chuyên môn, được xếp vào một ngạch hành chính, sự nghiệp, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước, làm việc trong các cơ quan: Văn phòng Chủ tịch nước; Văn phòng Quốc hội; cơ quan hành chính nhà nước ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyén,. Những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc được giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong các co quan, đơn vi thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: làm việc trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.
Luật cán bộ, công chức năm 2008 quy định khái niệm công chức như sau: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tô chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng: trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quan lý của đơn vi sự nghiệp công lập của Dang Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vi sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bao dam từ quỹ lương của đơn vi sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật. Khái niệm công chức cấp xã Ở Việt Nam hiện nay, công chức được phân định theo cấp hành chính. Ngoài công chức ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện còn có một bộ phận công chức cấp xã. Pháp lệnh sửa déi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 2003 được ban hành là sự khăng định về mặt pháp lý đối với đội ngũ công chức cấp xã.
Việc điều chỉnh pháp luật đối với công chức cấp xã là một bước đột phá, thể hiện sự thay đôi nhận thức có tinh căn bản của các cơ quan nhà nước ở nước ta trong tiến trình cải cách nền hành chính nhà nước. Đây là lần đầu tiên công chức cấp xã có chế độ làm việc và hưởng chính sách như cán bộ, công chức nhà nước. Nhiều quốc gia trên thế giới cho rằng những người làm việc tại các cơ quan địa phương không gọi là công chức nhà nước mà gọi là công chức địa phương, nhưng địa vị pháp lý của họ tương tự như công chức nhà nước làm việc tại các cơ quan nhà nước ở trung ương. Quan niệm trên bắt nguồn từ việc không coi các cơ quan của địa phương là cơ quan nhà nước, mà đó chỉ là các cơ quan tự quản của cộng đồng.
Ở nước ta, các cơ quan thuộc đơn vị hành chính cấp xã như HĐND và UBND đều là những cơ quan nhà nước. Vì vậy, pháp luật khang định công chức cấp xã là công chức nhà nước là hợp lý. Tuy nhiên, do tính chất hoạt động của công chức cấp xã nên Nhà nước cần phải có các quy định riêng dé quy định về chính sách, chế độ tiền lương, hưu trí và các vấn đề khác có liên quan. Luật cán bộ, công chức năm 2008 dành một chương quy định về cán bộ, công chức cấp xã.
Theo đó, Khoản 3 Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xa, trong 10 biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước. Theo Khoản 2 Điều 3 Nghị định 92/2009/NĐ-CP công chức cấp xã gồm các chức danh: Trưởng công an (nơi chưa bồ trí lực lượng công an chính quy); Chỉ huy trưởng quân sự; Văn phòng - thống kê; Địa chính - xây dựng - đô thị - môi trường (đối với phường, thị tran), địa chính - xây dựng - nông nghiệp - môi trường (đối với xã); Tài chính - kế toán; Tư pháp - hộ tịch; Văn hóa - xã hội. Đây là nhóm người được tuyên dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã. Khát niệm công chức tw pháp - hộ tịch Có thể nói, Tư pháp được coi là một lĩnh vực tô chức và hoạt động đặc biệt của Nhà nước nhằm duy tri an ninh, an toàn và công bằng xã hội.
Nói cách khác, tư pháp có nhiệm vụ duy trì và bảo vệ công lý. Thuật ngữ “Tư pháp” được bắt nguồn từ thuật ngữ “Juristice” theo chữ Latinh, có thể hiểu là “công lý” hay “nền công lý”, quan niệm như là một ý tưởng cao đẹp về nền công lý, việc giải quyết các tranh chấp, mâu thuẫn trong xã hội phải đúng pháp luật, hợp lẽ công bằng và các chuẩn mực khác. Tư pháp cũng có thé hiểu là “nền tư pháp” mà ở đó bao gồm cả hệ thống pháp luật và các thiết chế nhằm duy trì, bảo đảm việc thi hành một cách nghiêm minh hệ thống pháp luật đó, phát huy hiệu quả thực tế của chúng trong đời sống xã hội. Theo nghĩa Hán - Nôm, Tư pháp là “gìn giữ pháp luật” hay “bảo vệ pháp luật”.
Thuật ngữ “Hộ tịch” lần đầu tiên được tác giả Phan Văn Thiết đưa ra vào thời kỳ trước năm 1975: “Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp 11 pháp của một công dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử” [30]. Tại Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch, đến Nghị định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch thì khái niệm hộ tịch được đưa ra như sau: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết đi”. Luật Hộ tịch năm 2014 còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” như sau: 1.
Hộ tịch là những sự kiện được quy định tại Điều 3 của Luật này, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thâm quyền xác nhận hoặc ghi vào Số hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý dé Nhà nước bảo hộ quyên, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư [27]. Thời kỳ sau cách mạng tháng Tám, Chính phủ ban hành lần lượt Sắc lệnh 63/SL cho đến năm 1998, đội ngũ thực hiện công tác tư pháp và công tác hộ tịch tại cấp xã được gọi chung là Ban Tư pháp. Thuật ngữ “Cán bộ hộ tịch tư pháp” xuất hiện đầu tiên tại Nghị định 83/1998/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch.
Nghị định của Chính phủ số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 về Cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn quy định về công chức được tuyên dụng, giao giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã trong đó có công chức Tư pháp - Hộ tịch (CC TP-HT). Kê từ đó, trong các văn bản pháp luật của Nhà nước Việt Nam đều thống nhất sử dụng chung thuật ngữ CC TP-HT. Thuật ngữ CC TP-HT là việc sử dụng đồng thời lồng ghép giữa hai chức danh của công chức làm công tác tư pháp và công chức làm công tác hộ tịch. CC TP-HT tại các xã, phường, thị trấn là những người chăm lo mọi việc pháp lý liên quan đến quyên lợi của người dân trong suốt vòng đời sinh tử của họ, từ việc lây vợ, lây chong, sinh con, nuôi con, giao dịch nha 12 đất, hòa giải các tranh chấp nhỏ trong đời sống ở thôn, làng.
Có thể thấy, công chức Tư pháp - Hộ tịch là chức danh chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, được ví là “cầu nối” đưa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước đến người dân.