Chương 1. Tổng quan về chợ truyền thống Hội An, Quảng Nam Chương 2. Vai trò của chợ đối với phát tri n du lịch Hội An, Quảng Nam Chương 3. Chợ Hội An với vấn đề ảo tồn và phát tri n 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯ NG 1 TỔNG QUAN VỀ CHỢ TRUYỀN THỐNG HỘI AN, QUẢNG NAM 1.
Chợ truyền thống ở Việt Nam 1. Một số khái niệm 1. Chợ Trong tiếng Anh chợ được viết là “market”, người Pháp gọi là “marché”, người Trung Quốc viết chữ “市” là “thị” với ý nghĩa nơi treo cái khăn, tức là cái có thể bán và có người để mua thì tức là có chợ. Theo định nghĩa trong các từ điển tiếng Việt đang được lưu hành: “Chợ là nơi công cộng đ đông người đến mua bán vào nh ng ngày ho c nh ng buổi nhất định”.
Theo Thông tư số 15/TM-CSTTTN ngày 16/10/1996 của Bộ Thương Mại hướng dẫn tổ chức và quản lý chợ “Chợ là mạng lưới thương nghiệp được hình thành và phát tri n cùng với sự phát tri n của nền kinh tế xã hội” [42]. Theo Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ “Chợ là loại hình inh oanh thương mại được hình thành và phát tri n mang tính truyền thống, được tổ chức tại một địa đi m theo quy hoạch, đáp ứng nhu cầu mua án, trao đổi hàng hoá và nhu cầu tiêu dùng của khu vực dân cư” [26]. Như vậy có thể hiểu rằng chợ là một kiểu tổ chức sinh hoạt cộng đồng mà ở đó có sự tổ chức các hoạt động tiếp xúc, giao lưu, trao đổi, buôn bán hàng hóa giữa người này với người kia, đáp ứng nhu cầu nhất định của con người, góp phần phát triển kinh tế xã hội của một khu vực nhất định. Chợ truyền thống Theo Drew Taylo: “Chợ truyền thống là một ki u tổ chức hoạt động inh tế, vừa là một dạng sinh hoạt văn hóa chứa đựng bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc, vừa là bộ phận cấu thành trong đời sống kinh tế văn hóa xã hội” [49].
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thông qua các loại hình chợ truyền thống, hàng hóa được đưa từ sản xuất đến tiêu dùng, góp phần mở rộng, kích thích sản xuất hàng hóa, phục vụ đời sống của các tầng lớp nhân dân trong phạm vi xã, liên xã, liên vùng hoặc khu vực. Cùng với sự phát triển của các mô hình phân phối hiện đại, chợ truyền thống đóng vai trò to lớn đối với đời sống xã hội nói chung, đặc biệt là đối với đời sống văn hóa, tinh thần của mọi tầng lớp cư dân. Mấy nét chung về chợ truyền thống ở Việt Nam Từ thời thơ ấu của nhân loại con người đã biết trao đổi hàng hóa. Người ta đem thứ mình có và dư thừa đến chỗ đông người qua lại chờ đợi để trao đổi với người có thứ mình cần.
Không phải lúc nào sự trao đổi cũng xảy ra nhanh, nhiều lần họ phải đem hàng trở về. Về sau, nhiều người vòng tròn lại với nhau để trao đổi. Lúc đầu người ta mang vật đổi vật: trâu bò đổi lúa gạo, vải thóc…; nhưng nó bất tiện trong việc định giá cả, người ta nghĩ đến vật ngang giá chung, ban đầu là một vỏ sò, mẫu sắt…. sau mới xuất hiện tiền tệ (kim loại hoặc giấy).
Từ trao đổi đơn giản như vậy, khu vực người mua và người bán gặp nhau dần hình thành một không gian mà người ta gọi là chợ và được mô tả: “Chợ là cuộc g p gỡ định gi a thương gia đ hình thành việc mua án hàng hóa công hai tại một nơi nhất định Hàng hóa tại chợ rất đa ạng, từ các loại vải may m c đến các loại đá quý Hàng hóa án tại một số chợ Châu u chủ yếu là quần áo nh ng nước phương Đông chợ có tầm quan trọng và quy mô lớn Chợ ở các ang tỉnh lẻ ở là nh ng nơi trưng ày nông sản và sản ph m vườn ” [22;tr. Ở Việt Nam, do kinh tế tự sản xuất tự tiêu, nông thôn nước ta, từ sớm, xã thôn nào cũng đã có chợ. Từ điển văn hóa cổ truyền Việt Nam định nghĩa về loại chợ xã, chợ thôn: “Chợ thôn thường hông có lều quán, họp ở đất trống được mấy tiếng đồng hồ uổi sáng Bán mớ tôm tép, ốc, cá nhỏ ít thịt lợn vì người ta đã đánh đụng nhau trong thôn xóm Vài cô hàng xén, vài hàng án nồi niêu chỉnh chậu, hỏa lò ắt đầu ng đất nung Tùy th o mùa có trám, cà, lạc luộc, củ ấu, hoai lang, hoai sọ án mắm tôm, nước mắm, cá hô l o t o có mấy hàng” [29;tr. Còn chợ xã “to hơn, có án cả quần áo cho trẻ con may sẵn, yếm, thắt 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lưng, ống vôi, gương lược, hộp sáp cho phụ n Hoa quả nhiều hơn Ngoài nh ng uổi họp chợ thường ngày, còn nh ng ngày phiên chợ có cả hàng ăn: phở, ún ốc, ún viên, ánh đúc, ánh cuốn Chợ xã có hàng quán án phải đóng thuế chợ” [29;tr.
Điều kiện họp chợ trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư ghi nhận việc lập chợ là một yêu cầu tất yếu của sản xuất và sinh hoạt: “Trong ân gian, hễ có ân là có chợ đ lưu thông hàng hóa, mở đường giao ịch cho ân Các xã chưa có chợ có th lập thêm chợ mới Nh ng ngày họp chợ mới hông ược trùng với ngày họp chợ c hay trước ngày họp chợ c đ tránh tình trạng tranh giành hách hàng với nhau”. Đến đời vua Lê Thánh Tông: “.định lệ chỉ mở chợ mới Có sắc chỉ r ng: Các chợ ở huyện, châu, xã ở các xứ trong nước, người ân m i ngày càng nhiều, nơi nào muốn chia mở chợ đ tiện uôn án thì quan phủ huyện châu hám xét, quả thực hiện cho ân thì làm ản tấu lên, cho th o tiện lợi mà họp chợ, hông cứ là ngạch c hay hông” [44;tr. Việc định lệ mở chợ mới này có thể xuất phát từ thực tế những vùng đất mới khai thác được. Trong ngôn ngữ Việt Nam, khái niệm chợ thường có thêm một số từ k m theo để chỉ loại hàng hóa, hình thức sinh hoạt, tính chất, địa điểm họp của chợ.
Có thể phân chia nhiều loại hình họp chợ theo những tiêu chí khác nhau. Theo thời gian họp chợ có: chợ sáng, chợ chiều, chợ hôm, chợ phiên. Theo khu vực, địa vực có: chợ quê, chợ đô thị, chợ ven đô, chợ trung du, chợ đồng bằng, chợ miền núi… Theo quy mô hành chính có chợ làng, xã (liên làng, chợ huyện (liên xã)), chợ thị trấn, chợ thị xã… Theo tính chất, quy mô trao đổi hàng hóa có: chợ vải, chợ trâu, chợ lụa… Dù phân chia theo tiêu chí nào thì chợ ở khu vực nông thôn hoạt động trên địa bàn nào đều có địa phương ở nơi đó quản lý, chúng có một tên gọi chung là chợ làng hay chợ quê [22;tr. Đến chợ tức là con người được gặp nhau trong một không gian và không khí hoàn toàn bình đẳng.
Đã đến chợ thì dù kẻ quyền chức hay người dân thường đều trở thành kẻ bán hoặc người mua. Ở đây, tất cả sản phẩm của người lao động đều 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trở thành hàng hóa. Có thể nói hàng hóa và tiền tệ được thể hiện vai trò của mình ở không gian của chợ theo kiểu quan hệ “thuận mua vừa án” Ngoài mục đích mua bán, đến chợ còn để thông tin cho nhau về cuộc sống riêng tư, cuộc sống đời thường. Có lẽ vì thế mà chợ còn là điểm sinh hoạt văn hóa, là chốn hò hẹn, tâm tình.
Chợ còn là bức tranh phản ánh đời sống chính trị, xã hội. Ngoài phản ánh bộ mặt kinh tế qua số lượng hàng hóa, chủng loại vật phẩm, chợ còn là điểm nhìn để đoán biết tình hình xã hội. Có tác giả đã nói “Nhìn nét m t của người phụ n đi chợ có th iết l thịnh suy của đất nước” [22;tr. Cảnh chợ quê thanh bình, đông vui phản ánh khác, nói khác về bối cảnh chính trị so với cảnh chợ tan hoang, ít người, tan sớm, nhuốm tâm trạng lo âu.
Trong tâm thức của người Việt, chợ còn mang ý nghĩa là nơi gửi gắm những trăn trở, những tình cảm bình dị, chân thành dân dã nhất: Lúc là lời khuyên: “Trai hôn tìm vợ chợ đông ái hôn tìm chồng gi a đám a quân” Lúc phân trần nhẹ nhàng: “Trắng a vì ởi phấn ồi Đ n a vì ởi m ngồi chợ trưa” Những tình cảm này chỉ xuất phát từ cuộc sống gắn liền với chợ búa và đã thâm nhập sâu vào tâm thức của mỗi người. Chợ Hội An 1. Vị trí Chợ Hội An còn được gọi với tên thân mật là chợ Phố, chợ nằm trên tuyến đường Trần Quý Cáp và Trần Phú, trong khu vực I của phố cổ, thuộc phường Minh An, thành phố Hội An. Là chợ trung tâm của thành phố Hội An, chợ ở vị trí xen kẽ với các khu dân cư, được chia cắt thành các khu riêng biệt theo mô hình ô bàn cờ.
Toàn bộ khu vực phía Nam của chợ giáp với sông Thu Bồn, ba mặt còn lại giáp với các tuyến đường của phố cổ. Đây vừa là nơi buôn bán, phục vụ đời sống người dân thành phố, vừa là 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nơi tổ chức nhiều hoạt động du lịch để giới thiệu nghề truyền thống và văn hóa ẩm thực Hội An. Lịch sử hình thành và phát triển Theo sau sự ra đời của các ngôi làng, chợ cũng bước đầu được hình thành. Vào buổi đầu, gọi là chợ nhưng thực ra là một điểm tụ họp của một nhóm người có nhu cầu trao đổi, gần nơi bến sông.
Dân gian còn lưu truyền các tên gọi như “chợ đàng”, “chợ chồm hổm” tức chỉ tụ tập nhanh và tan sớm. Các chợ này trong buổi đầu, trao đổi hàng hóa còn mang tính chất địa phương, nhỏ hẹp. Hội An cũng không nằm ngoài quy luật đó. Qua tài liệu khảo cổ thu thập được thì từ khoảng thế kỷ thứ II trở về trước, cư dân của nền văn hóa Sa Huỳnh bản địa Hội An đã có giao thương với thế giới bên ngoài và chính cư dân Sa Huỳnh đã xây dựng tiền cảng thị Hội An.
Thời kỳ Champa thế kỷ thứ II sau Công nguyên cho đến thế kỷ XV, người Chàm đã sử dụng cảng này và xem là trung tâm để phát triển thương mại với tên gọi Lâm Ấp phố, đồng thời người Champa cũng quản lý cả vùng biển rộng lớn. Bản đồ cổ ghi tên gọi biển Champa, chứ không gọi biển Đông như bây giờ.