Chương 1. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm thực tiễn về vai trò của chính quyền tỉnh trong thu hút FDI Chương 2. Thực trạng vai trò của chính quyền tỉnh Bắc Giang trong thu hút FDI Chương 3.Giải pháp nhằm cải thiện vai trò của chính quyền tỉnh Bắc Giang trong thu hút FDI 8 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ VAI TRÒ CỦA CHÍNH QUYỀN TỈNH TRONG THU HÚT FDI 1. FDI và thu hút FDI tại địa phƣơng 1.
FDI và vai trò của FDI đối với phát triển kinh tế - xã hội 1. Khái niệm Tổ chức Thương mại Thế giới đưa ra định nghĩa về FDI như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Theo định nghĩa này, quyền quản lý tài sản là yếu tố để phân biệt FDI với các hình thức đầu tư khác; trong hầu hết các trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường hay được gọi là "công ty mẹ" và các tài sản được gọi là "công ty con" hay "chi nhánh công ty".
Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế IMF, FDI là một công cuộc đầu tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp trong một quốc gia khác; quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phiếu mới được công nhận là FDI. Theo tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế OECD thì đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói trên bằng cách: thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn quyền quản lý của chủ đầu tư; mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có; tham gia vào một 9 z doanh nghiệp mới; cấp tín dụng dài hạn (> 5 năm); nắm từ 10% cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết trở lên. Còn theo Luật Đầu tư năm 2005, “Đầu tư trực tiếp được hiểu là “hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư”, còn “Nhà ĐTNN là tổ chức, cá nhân nước ngoài bỏ vốn để thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam”. Tóm lại, tuy còn có nhiều quan điểm về FDI nhưng về cơ bản ta có thể đúc kết rằng FDI là hình thức đầu tư dài hạn của cá nhân hay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất, kinh doanh.
Các cá nhân hay công ty nước ngoài này sẽ là người trực tiếp quản lý, điều hành việc sử dụng vốn, chịu trách nhiệm và hưởng lợi từ kết quả sản xuất kinh doanh dựa trên mức độ góp vốn. Bản chất và đặc điểm của FDI Bản chất của FDI là sự kết hợp về nhu cầu giữa một bên là nhà đầu tư nước này với một nước nhận đầu tư khác hay nói cách khác đó chính là sự gặp gỡ cung cầu về vốn của nhà đầu tư nước ngoài và nước nhận đầu tư. Trong đó các nhà đầu tư nước ngoài đóng một lượng vốn tối thiểu theo quy định của nước nhận đầu tư để được quyền trực tiếp tham gia điều phối, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh. Quyền điều hành quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào mức vốn nhà đầu tư đóng góp; nếu nhà đầu tư thành lập công ty 100% vốn nước ngoài thì quyền điều hành hoàn toàn thuộc về nhà đầu tư nước ngoài, có thể trực tiếp hoặc thuê người quản lý.
Về phân chia lợi nhuận, dựa trên kết quả sản xuất kinh doanh, lãi lỗ sẽ được phân chia theo tỷ lệ vốn góp trong vốn pháp định. Về đặc điểm, so với những hình thức đầu tư nước ngoài khác, FDI có ưu điểm là không để lại gánh nặng nợ cho Chính phủ nước tiếp nhận đầu tư 10 z như ODA hoặc các hình thức đầu tư nước ngoài khác như vay thương mại, phát hành trái phiếu ra nước ngoài. Bên cạnh đó, khi thực hiện liên doanh với nước ngoài, các doanh nghiệp trong nước có thể giảm được rủi ro về tài chính, trong tình huống xấu nhất khi gặp rủi ro thì các đối tác nước ngoài sẽ là người cùng chia sẻ rủi ro với các công ty của nước sở tại. Do vậy, FDI là hình thức thu hút và sử dụng vốn đầu tư nước ngoài tương đối ít rủi ro cho nước tiếp nhận đầu tư Đối với các nước tiếp nhận đầu tư, thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài, có thể tiếp nhận được công nghệ kỹ thuật, phương thức quản lý tiên tiến, cho phép tạo ra những sản phẩm mới, mở ra thị trường mới.
Vai trò của FDI FDI có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. FDI góp phần giải quyết những khó khăn về vốn, công nghệ và trình độ quản lý, nhờ vào những yếu tố này sẽ giúp cho nền kinh tế tăng trưởng một cách nhanh chóng, giúp chúng ta khắc phục được những điểm yếu của mình trong quá trình phát triển và hội nhập. Bên cạnh đó, FDI có tác động mạnh đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của nước tiếp nhận; thúc đẩy quá trình này trên nhiều phương diện như chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, cơ cấu vùng lãnh thổ, cơ cấu các thành phần kinh tế, cơ cấu vốn đầu tư, cơ cấu công nghệ, cơ cấu lao động. Ngoài ra FDI góp phần tạo nguồn vốn bổ sung quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội hiện nay.
Nguồn vốn này không chỉ thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh tại địa bàn tiếp nhận mà còn giúp giải quyết vấn đề xã hội như tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân xung quanh. Thêm vào đó, việc thu hút FDI cũng đóng góp một phần quan trọng trong kinh tế đối ngoại, có vai trò làm cầu nối và thúc đẩy quá trình hội nhập 11 z kinh tế quốc tế, một nhân tố đẩy nhanh quá trình toàn cầu hóa kinh tế thế giới. Thông qua việc tìn hiểu thông tin xúc tiến đầu tư, tiếp nhận vốn đầu tư, nước tiếp nhận có điều kiện thuận lợi để gắn kết nền kinh tế trong nước với hệ thống sản xuất, phân phối và trao đổi với thị trường quốc tế. Do đó có thể dễ dàng tiếp cận và thâm nhập thị trường quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu, thích nghi nhanh hơn với các thay đổi trên thị trường thế giới.
Xét tổng thể nền kinh tế và xu thế phát triển của thế giới hiện nay, FDI là một thành phần vốn đầu tư phát triển không thể thiếu đối với hầu hết các nền kinh tế bởi nó không chỉ là nguồn vốn hết sức quan trọng cho mỗi quốc gia đẩy nhanh hơn nữa tốc độ phát triển kinh tế để hoà nhập vào nền kinh tế khu vực cũng như thế giới mà còn là nhân tố góp phần đẩy mạnh quan hệ hợp tác và hội nhập quốc tế. Chính vì vậy, chính quyền nhà nước nói chung và chính quyền các địa phương nói riêng cần xây dựng một cơ chế chính sách phù hợp hơn nữa nhằm thu hút nguồn vốn này trong tương lai. Các hình thức FDI Theo Điều 21 của Luật Đầu tư năm 2005, các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là: - Thành lập các tổ chức kinh tế 100% vốn nước ngoài - Thành lập các tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài - Đầu tư theo hình thức hợp đồng BBC, BOT, BTO, BT - Đầu tư phát triển kinh doanh (mở rộng quy mô, nâng cao năng suất, năng lực kinh doanh, đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm ô nhiễm môi trường) - Mua cổ phần, góp vốn để tham gia quản lý đầu tư - Đầu tư thực hiện việc sáp nhập và mua lại doanh nghiệp 12 z 1. Thu hút FDI và các nhân tố ảnh hưởng tới thu hút FDI tại địa phương 1.
Thu hút FDI và bản chất của việc thu hút FDI Thu hút FDI là các hoạt động của một nước hay một địa phương nhằm thu hút nguồn vốn đầu tư từ các cá nhân, tổ chức nước ngoài. Hoạt động này mang tính định hướng dựa trên chiến lược và mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của nước hoặc địa phương tiếp nhận đầu tư. Do vậy, việc thu hút đầu tư được triển khai dưới nhiều hình thức, và tùy vào mức độ quan tâm của cấp lãnh đạo và tiềm lực cũng như đặc điểm của mỗi vùng, miền, hình thức thu thút FDI sẽ khác nhau. Bản chất của các hoạt động thu hút FDI là thu hút nguồn vốn đầu tư và các công nghệ tiên tiến của nước ngoài nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội của nước hoặc địa phương đang thu hút FDI.
Các nhân tố ảnh hưởng đến thu hút FDI tại địa phương Kết quả thu hút FDI tại một quốc gia nói chung và trên quy mô, phạm vi một tỉnh nói riêng phụ thuộc rất nhiều vào chiến lược kinh doanh của công ty muốn đầu tư cũng như mối quan hệ của công ty đó với thị trường nước sở tại. Tuy nhiên, điểm mấu chốt chung trong thu hút đầu tư vẫn dựa trên các tiêu chí về kinh tế, tài nguyên, cơ sở hạ tầng và chính sách. Về mặt kinh tế, khi lựa chọn địa phương đầu tư, các NĐT thường xét tới các nhân tố về thị trường, lợi nhuận và chi phí trong đó nhân tố chí phí đóng vai trò chủ đạo khi cân nhắc lợi thế đầu tư giữa các địa phương trong một vùng lãnh thổ. Các chi phí được nhà NĐT quan tâm như chi phí nhân công, chi phí vận chuyển, các điều kiện ưu đãi đầu tư của chính quyền địa phương cũng như các chi phí sử dụng đất và sự sẵn có về tài nguyên thiên nhiên.
Về mặt tài nguyên, khi quyết định đầu tư một cơ sở sản xuất mới tại một địa phương ở một nước đang phát triển, NĐT thường quan tâm đánh giá trên các khía cạnh như nguồn nhân lực, vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên. 13 z Trong đó, nhân tố về nguồn nhân lực được xem xét trên khả năng khai thác nguồn nhân lực trẻ, dồi dào với chi phí tối ưu nhất.