Mở đầu Nội dung chính của chương này nêu lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vị nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, kết cấu của luận văn và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và tổng quan các nghiên cứu trước Nội dung chương này sẽ đưa ra tổng quan về lý thuyết, cụ thể là tổng quan về đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài. Trong đó làm rõ các khái niệm cơ bản về đầu tư, đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp, đại dịch COVID-19. Nêu tổng quan các chỉ số đại diện cho hiện trạng của đại dịch COVID-19 có khả năng ảnh hưởng đến dòng vốn đầu tư nước ngoài.
Cụ thể hóa tác động của đại dịch COVID-19 đến dòng vốn đầu tư nước ngoài của các nước khu vực Châu Á thông qua lược khảo các nghiên cứu trước đây. Chương 3: Mô hình và phương pháp nghiên cứu Chương này sẽ mô tả biến nghiên cứu, giải thích về các dữ liệu áp dụng trong nghiên cứu, trình bày mô hình nghiên cứu, dạng của mô hình nghiên cứu và các phương pháp để xử lý dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu Trình bày các kết quả sau khi thực hiện chạy mô hình nghiên cứu, bao gồm: thống kê mô tả mẫu, phân tích tương quan mô hình nghiên cứu, kiểm định hiện 10 tượng đa cộng tuyến, kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi, kiểm định hiện tượng tự tương quan. Thảo luận kết quả của nghiên cứu, đối chiếu với giả thuyết ban đầu.
Từ đó, phân tích và thảo luận kết quả nghiên cứu, nêu ra những tác động của đại dịch COVID-19 đến FI tại khu vực Châu Á trong đó có Việt Nam. Chương 5: Kết luận và kiến nghị Dựa trên kết quả phân tích ở trên và quan điểm cá nhân, tác giả đưa ra các đề xuất kiến nghị cũng như nêu ra hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2. Đầu tư nước ngoài Đầu tư nước ngoài là một quá trình chuyển dịch vốn đầu tư dưới các hình thức khác nhau từ quốc gia này sang quốc gia khác để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận hoặc mục đích sinh lợi khác.
Dòng vốn đầu tư nước ngoài có thể nói là mang lại rất nhiều lợi ích đối với nước tiếp nhận đầu tư như giúp mở rộng hợp tác kinh tế giữa các nước, mở rộng cơ hội việc làm cho lao động tại quốc gia được đầu tư; Ngoài tranh thủ được tài nguyên về nguồn vốn còn có công nghệ hiện đại thông qua tiếp nhận các kiến thức chuyên môn cao; Học hỏi được kinh nghiệm quản lý tiên tiến của quốc gia đầu tư để khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của đất nước nhận đầu tư. Từ đó góp phần nâng cao nguồn thu nhập của lao động, gia tăng ngân sách chính phủ. Đầu tư nước ngoài được thực hiện dưới hình thức đầu tư trực tiếp hoặc đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp nước ngoài Theo quy định tại Khoản 2, Điều 3, Luật Đầu tư Việt Nam được ban hành năm 2005 thì có thể hiểu rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vốn vào một quốc gia khác nhận đầu tư bằng tiền mặt hoặc bất cứ tài sản nào để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật này.” FDI diễn ra khi một công ty ở một quốc gia này thiết lập hoạt động kinh doanh ở một quốc gia khác thông qua việc thiết lập một chi nhánh mới sở hữu 100%, hoặc mua lại một công ty địa phương, hoặc thành lập một liên doanh trong nền kinh tế.
Hình thức của đầu tư trực tiếp nước ngoài khá đa dạng, có thể dựa vào 12 mục đích ban đầu của nhà đầu tư hoặc nguồn gốc của vốn góp mà phân loại các hình thức FDI. Theo đó, căn cứ vào nguồn gốc của vốn góp thì có thể là vốn đầu tư tư nhân (cá nhân góp vốn đầu tư vào đơn vị khác) hoặc vốn góp từ các tổ chức kinh tế (nhà đầu tư là một doanh nghiệp kinh doanh góp vốn thành lập doanh nghiệp mới tại quốc gia khác). Căn cứ vào mục đích ban đầu của nhà đầu tư, một cách phân biệt đơn giản thì FDI có thể được chia thành 02 hình thức như sau: FDI theo chiều ngang và FDI theo chiều dọc. Hình thức đầu tư FDI theo chiều ngang diễn ra khi một công ty tại quốc gia đầu tư muốn mở rộng quy mô kinh doanh của họ tại một quốc gia khác với cùng lĩnh vực kinh doanh, ngành nghề sản xuất mà họ đang vận hành.
Điều này xuất phát từ việc nhà đầu tư muốn tìm kiếm một thị trường khác tiêu thụ sản phẩm của họ mà có thể giảm thiểu được các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu, hoặc tại quốc gia được đầu tư có chi phí nguồn nhân lực, chi phí tài nguyên rẻ hơn so với tại nơi đang sản xuất. FDI theo chiều ngang có thể được kỳ vọng nhằm gia tăng hoặc thay thế trong hoạt động sản xuất giữa đơn vị đầu tư và quốc gia nhận đầu tư. Choi và Harrigan (2003) “Sản phẩm sản xuất ra được phân phối tiêu dùng tại nước nhận đầu tư cho thấy rằng hình thức FDI theo chiều ngang nhằm đưa sản phẩm đến gần hơn với người tiêu dùng nước ngoài và tránh chi phí thương mại”. Ví dụ: Một thương hiệu sản xuất sản phẩm may mặc của Châu Âu sẽ có xu hướng đầu tư nhà máy may mặc tại các nước như Trung Quốc, Việt Nam,… vì chi phí nguồn nhân lực lao động thủ công thấp hơn so với sản xuất tại Châu Âu.
Khác với FDI theo chiều ngang, hình thức đầu tư FDI theo chiều dọc có nghĩa là: một hình thức đầu tư nhằm mục đích kéo dài chuỗi cung ứng của sản phẩm, có thể là nhiều ngành khác nhau hoặc cũng có thể trong cùng một ngành. Chủ đầu tư muốn kéo dài chuỗi cung ứng sản phẩm của họ, việc đầu tư vào một quốc gia khác có thể để tạo ra sản phẩm nhằm cung cấp đầu vào cho hoạt động sản xuất hiện tại, hoặc cũng có thể nhằm tiêu thụ sản phẩm. Braconier và Ekholm (2000) “FDI theo chiều dọc thường được cho là liên quan đến một hoặc một vài 13 yếu tố bổ sung giữa các công ty hoạt động trong và ngoài quốc gia đầu tư”. Tuy nhiên FDI theo chiều dọc cũng có thể liên quan đến việc thay thế lao động nếu các hoạt động thượng nguồn hoặc hạ nguồn được thực hiện trong nước theo truyền thống chuyển sang các chi nhánh nước ngoài.
Hình thức đầu tư này có thể dễ dàng thấy được đối với chuỗi sản phẩm ngành may mặc, các quốc gia có thể trồng bông tạo sợi thì nguồn nhân lực chất lượng cao cho dệt nhuộm thường khan hiếm, việc đầu tư tại nước ngoài xây dựng các nhà máy dệt, nhuộm,… để tiêu thụ nguồn bông sản xuất ra sẽ giúp tiết kiệm chi phí. Trong khi FDI theo chiều ngang thường được thúc đẩy bởi động cơ tìm kiếm thị trường thì cơ sở FDI theo chiều ngang là tiết kiệm chi phí (Liu và Nunnenkamp, 2011). Kỳ vọng của chủ đầu tư đối với hai hình thức này là việc FDI theo chiều ngang thì hoạt động tại các chi nhánh có xu hướng thay thế cho các hoạt động của công ty trong nước, trong khi FDI theo chiều dọc có thể hỗ trợ bổ sung cho hoạt động của công ty trong nước. Tác động của FDI tại nước nhận đầu tư được cho là có thể phụ thuộc vào việc hoạt động ở nước ngoài là chiều ngang hay chiều dọc so với hoạt động trong nước.
Một trong những thành phần cơ bản nhất của tăng trưởng kinh tế là vốn, tích lũy vốn là điều kiện cơ bản để xóa bỏ sự lạc hậu về kinh tế cho các nước đang phát triển trong giai đoạn phát triển ban đầu (Rostow, 1960). Chenery và Adelman (1966) đề xuất lý thuyết hai khoảng cách cho thấy rằng FDI có thể bù đắp khoảng cách về vốn và ngoại hối và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Balasubramanyam và cộng sự (1996) đã thử nghiệm một mô hình tăng trưởng nội sinh cho thấy rằng FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua nhiều tác động. FDI vào được phát hiện có tác động đến tiền lương của địa phương.
Từ những nghiên cứu thực nghiệm trước đó, có thể thấy vai trò tích cực của FDI đối với tăng trưởng trong nền kinh tế. Việc một quốc gia mang tiền, máy móc thiết bị, công nghệ vận hành, kinh nghiệm quản lý đến một quốc gia khác đồng nghĩa rằng ngoài việc chủ đầu tư thực hiện đầu tư tài sản nhằm mục đích thu về lợi nhuận thì chủ đầu tư cũng đang chuyển giao công nghệ cho quốc gia tiếp nhận. Tạo việc làm 14 cho số lượng lớn lao động nhờ vào việc các nhà máy được xây dựng, giúp tạo thêm nguồn thu nhập, góp phần cải thiện ngân sách. Đầu tư gián tiếp nước ngoài Theo Balasubramanyam và cộng sự (1996) “Đầu tư gián tiếp nước ngoài là hình thức đầu tư quốc tế, trong đó chủ đầu tư nước ngoài đầu tư bằng hình thức góp vốn vào các công ty tại nước nhận đầu tư để thu về lợi nhuận mà không trực tiếp tham gia điều hành công ty, cũng không tìm cách kiểm soát khoản đầu tư.
Đầu tư gián tiếp thường diễn ra với các loại hình như: góp vốn, mua cổ phần doanh nghiệp; nợ chính phủ trên thị trường chứng khoán nước ngoài; các khoản cho vay đối với công ty nước ngoài”. Rõ ràng, việc mua trái phiếu do một công ty phát hành, hoặc nợ chính phủ hoặc cho công ty nước ngoài vay đều không mang lại quyền kiểm soát. “Theo lý thuyết tài chính quốc tế, FII là kết quả tất yếu của các nhà đầu tư xuyên quốc gia nhằm đa dạng hóa rủi ro trong danh mục đầu tư và đạt được lợi nhuận cao hơn” (Garg và Dua, 2014). Theo quan điểm của nước nhận đầu tư, đặc biệt là các nước đang phát triển, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được coi là có vai trò quan trọng trong việc thu hẹp chênh lệch tiết kiệm – đầu tư.
Các quốc gia đầu tư phát triển trên toàn cầu cũng đang nỗ lực để thu hút dòng vốn tài chính nước ngoài, nhằm tạo động lực cho phát triển thị trường tài chính trong nước.