Chương 1: Giới thiệu tổng quan về luận án: giới thiệu về sự cần thiết và ý nghĩa của đề tài, tổng quan về mục tiêu, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu của luận án và lược khảo các tài liệu nghiên cứu có liên quan trong và ngoài nước về vai trò của chính quyền địa phương trong việc xây dựng môi trường đầu tư. Chương 2: Cơ sở lý luận: giới thiệu hệ thống cơ sở lý thuyết về môi trường đầu tư, về vai trò của chính quyền địa phương trong việc xây dựng môi trường đầu tư để thu hút đầu tư tư nhân và hướng nghiên cứu của đề tài. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu: giới thiệu cụ thể về phương pháp nghiên cứu của luận án, xây dựng khung phân tích, xây dựng quy trình nghiên cứu luận án. Chương 4: Kết quả nghiên cứu: phân tích vai trò của chính quyền địa phương Long An trong việc xây dựng môi trường đầu tư, Chương 5: Trên cơ sở kết quả nghiên cứu của chương 4, luận án đề xuất một số giải pháp nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong việc xây dựng môi trường đầu tư để thu hút đầu tư tư nhân đạt kết quả tốt hơn.
Chương 6: Kết luận: khái lược về nội dung đã được nghiên cứu trong luận án, những đóng góp mới và hạn chế của luận án, hướng nghiên cứu tiếp theo. Luận văn tiến sĩ CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về đầu tư Đầu tư giữ vai trò quan trọng cho tăng trưởng kinh tế và liên quan đến các vấn đề mang tính chu kỳ kinh tế của một quốc gia, một địa phương.
Đầu tư hay chi tiêu đầu tư (investment spending) là lưu lượng (flow) nhằm bổ sung cho dung lượng (stock) vốn thực tế (K). Trong các mô hình tăng trưởng như mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow, đầu tư có tác động lớn đến tăng trưởng của một quốc gia, một địa phương. Đến lượt mình, đầu tư được hình thành từ sự “bồi đắp” của chi tiêu đầu tư. Đầu tư là dung lượng chi tiêu để sản xuất hàng hóa – là của cải và cũng là nguồn gốc của sự thịnh vượng – ngoài mục đích tiêu dùng trực tiếp (Đỗ Thiên Anh Tuấn, 2015).
Theo từ điển bách khoa toàn thư Việt Nam: Đầu tư là sự bỏ vốn vào một doanh nghiệp, một công trình hay một sự nghiệp bằng nhiều biện pháp như cấp phát ngân sách, vốn tự có, liên doanh hoặc vay dài hạn để mua sắm thiết bị, xây dựng mới hoặc thực hiện việc hiện đại hóa, mở rộng xí nghiệp, trang bị tư liệu sản xuất để sản xuất ra của cải, đem lại doanh lợi cho doanh nghiệp. Trong nghiên cứu này, thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng hóa vốn mới như mặt bằng xây dựng, nhà xưởng, mua, lắp đặt máy móc thiết bị, vốn lưu động để phục vụ sản xuất kinh doanh. Theo luật Đầu tư 2014, đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản, tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của luật Đầu tư và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Phân theo khu vực kinh tế, đầu tư có thể chia thành đầu tư tư nhân (private investment) và đầu tư công (public investment).
Đầu tư công được hiểu là đầu tư của khu vực Nhà nước, bao gồm đầu tư từ nguồn ngân sách của Chính phủ và của chính quyền địa phương, đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ, tín dụng đầu tư qua kênh ngân hàng phát triển và đầu tư của các doanh nghiệp Nhà nước. Luận văn tiến sĩ Theo Luật Đầu tư công năm 2014, đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn vốn để tài trợ cho các hoạt động đầu tư công bao gồm vốn ngân sách Nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn đầu tư từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách Nhà nước, các khoản vốn vay của ngân sách địa phương để đầu tư. Đối với đầu tư tư nhân, theo quan điểm của chủ đầu tư thì đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh, để từ đó thu được số vốn lớn hơn số vốn ban đầu bỏ ra, thông qua lợi nhuận.
Theo quan điểm xã hội vì mục tiêu phát triển, các nhà kinh tế học dùng thuật ngữ đầu tư để chỉ việc mua hàng hóa vốn mới, chẳng hạn như máy móc, nhà xưởng, nhà ở. Khi đề cập đến các tài sản chính, các nhà kinh tế nói là “đầu tư tài chính” (Olivier Blanchard, 2000). Môi trường đầu tư Theo quan điểm của World Bank “Môi trường đầu tư là tập hợp những nhân tố đặc thù địa phương đang định hình cho các cơ hội và động lực để doanh nghiệp đầu tư có hiệu quả, tạo việc làm và mở rộng sản xuất” (World Bank, 2005). Môi trường đầu tư phản ánh những nhân tố đặc trưng của địa điểm, từ đó tạo thành các cơ hội và động lực cho doanh nghiệp đầu tư hiệu quả, tạo việc làm và phát triển (World Bank, 2005).
Theo Deng và các cộng sự (1997) môi trường đầu tư là một tập hợp rất nhiều các nhân tố và điều kiện để thu hút dòng vốn bên ngoài, Theo Wim P. Vijverberg (2012) môi trường đầu tư bao gồm tất cả các điều kiện liên quan đến kinh tế, chính trị, hành chính, cơ sở hạ tầng tác động đến hoạt động đầu tư và kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Với khái niệm này, môi trường đầu tư được hiểu khá rộng. Luận văn tiến sĩ Theo quan niệm của Stephen Knack và Philip Keefer (1995), môi trường đầu tư có mối liên hệ chặt chẽ đến các nhân tố thể chế.
Một môi trường thể chế có chất lượng sẽ khuyến khích các hoạt động đầu tư và mở rộng đầu tư. Theo Nguyễn Thị Tuệ Anh và các cộng sự (2006) : “Môi trường đầu tư thường được sử dụng để mô tả những khía cạnh thể chế có thể ảnh hưởng tới việc ra quyết định đầu tư và quá trình thực hiện đầu tư của doanh nghiệp. Để đánh giá môi trường đầu tư, các chỉ số sau đây thường được lựa chọn: qui định luật pháp, mức độ tham nhũng, quyền sở hữu, cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, dịch vụ tài chính. Ngoài ra, các nhân tố khác như quan liêu, bất ổn định về xã hội và chính trị, xử lý vi phạm hợp đồng …cũng được sử dụng như là các chỉ số để đánh giá”.
Kinh tế tư nhân Xuất phát từ thực tiễn của nền sản xuất trong thời kỳ quá độ, trình độ xã hội hóa của lực lượng sản xuất không đều và còn rất thấp, gắn với nó đòi hỏi cần phải có một hình thức kinh tế đa dạng, thích ứng mới thúc đẩy nền sản xuất phát triển. Hơn thế do sự tồn tại khách quan và yêu cầu vận dụng chúng các quy luật kinh tế trong thời kỳ quá độ. Đặc biệt là quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Chính từ những cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn trên đây đòi hỏi phải có một hệ thống quan hệ sản xuất đa dạng.
Thích ứng với sự phát triển đó của nền kinh tế tất yếu tồn tại nhiều thành phần kinh tế, trong đó có sự tồn tại của kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ, kinh tế tư bản tư nhân. Các loại hình tổ chức kinh doanh cơ bản là: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin đã khẳng định kinh tế tư nhân tồn tại trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và một trong những nhiệm vụ kinh tế cơ bản, lâu dài của cả thời kỳ quá độ là phải cải tạo thành phần kinh tế này.
Thực tiễn cho thấy, việc phát triển kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một chủ trương đúng đắn, là sự vận dụng Luận văn tiến sĩ một cách sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước. Kinh tế tư nhân trong thời kỳ quá độ ở Việt Nam không chỉ tồn tại khách quan mà được Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm. Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đã nêu: “Hoàn thiện cơ chế chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế”. Thực tiễn cho thấy kinh tế tư nhân ngày càng chứng tỏ vai trò của nó, trở thành một đối chứng hiện thực năng động để các khu vực kinh tế khác phấn đấu vươn lên, tự đổi mới, tự hoàn thiện và nâng cao hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
Kinh tế tư nhân được coi là một trong những bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, được đối xử và hoạt động bình đẳng như các khu vực kinh tế khác. Để nền kinh tế vận hành trôi chảy mang lại hiệu quả kinh tế cao thì việc xây dựng môi trường đầu tư nhằm phát triển kinh tế tư nhân giữ vị trí đặc biệt quan trọng vì kinh tế tư nhân được Đảng ta xác định là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện môi trường đầu tư cho kinh tế tư nhân phát triển là đảm bảo những điều kiện cần thiết để kinh tế tư nhân hoạt động đúng hướng. Tiếp thị địa phương Tiếp thị địa phương liên quan đến 3 nhóm chính: + Thứ nhất là khách hàng của một địa phương.
Cũng như tiếp thị thương hiệu sản phẩm hay một dịch vụ, nhà tiếp thị địa phương cần phải xác định thị trường hay khách hàng mục tiêu của địa phương mình. Khách hàng mục tiêu của một địa phương có thể bao gồm các nhà đầu tư, các nhà sản xuất kinh doanh, các nhà xuất khẩu, các tổng hành dinh của các công ty, khách du lịch, hội nghị và các chuyên viên. + Thứ hai là các nhân tố của địa phương để tiếp thị cho khách hàng.